Vào ngày 21 tháng 9 năm 2024, nhà báo, diễn giả Phan Đăng đã cho ra mắt tập thơ đầu tay của mình mang tên “Tôi ngỡ tôi là người”. Tác phẩm này là một bước ngoặt đáng nhớ trên hành trình tìm kiếm cái tôi của tác giả ở tuổi ba mươi chín, mang theo những rung cảm và hình hài cuộc đời trong mắt mình cô đọng lại thành một thế giới ngôn từ rất riêng.

Là một nhà báo, diễn giả, nhà văn, hay mới đây đã đặt chân vào lĩnh vực sáng tác thơ, Phan Đăng được nhiều người biết đến với khả năng truyền cảm hứng và những kinh nghiệm sống mà anh bộc bạch trong các bài viết và buổi diễn thuyết của mình. Đến với nghề làm báo như một duyên nợ, như nhận xét của các đồng nghiệp dành cho anh – “Giời đày làm báo”, anh trưởng thành qua từng vấn đề lớn của xã hội, văn hóa và thể thao. Dần dần, anh thử sức ở cả lĩnh vực dẫn chương trình, rồi đến viết sách. Qua mỗi câu chuyện và lời chia sẻ, anh luôn mang đến những góc nhìn mới mẻ rồi gửi gắm vào đó những thông điệp nhân văn và suy ngẫm sâu sắc về người, về đời, về vô vàn khía cạnh của cuộc sống.

Sắc bút Phan Đăng đã từng ghi lại nhiều dấu ấn trong làng văn chương với các tựa sách lấy chủ đề thể thao, hoặc những chiêm nghiệm sâu sắc được khéo léo thể hiện xoay quanh con số 39. Lần này, anh mang những trăn trở rải vào trang thơ, sự giác ngộ đến từ những câu chuyện tưởng chừng quá đỗi vụn vặt và đời thường, nhờ đó mà đúc kết nên một Phan Đăng hoàn toàn mới, một “người” cuối cùng cũng đã buông bỏ được cái khái niệm đã từng “đóng chết mình”.

Tập thơ gồm 4 chương, chương thứ nhất “Nhập” chỉ có vỏn vẹn một bài thơ duy nhất – “Mưa tỉ năm”. Những vần thơ đánh dấu khoảnh khắc bừng tỉnh của tác giả về cái gọi là “cõi thực”, những sự vật tưởng chừng vĩ đại nay hóa vô thường. Đi qua thời hoa niên sôi nổi, các khái niệm từng được tô vẽ đầy tự hào giờ nhẹ như không.
“Những dấu chân thế gian như ảo ảnh
Những hình vẽ thế gian như vết xước
Những gia tài thế gian như giọt nước
Những di chúc thế gian như gió bay
Vũ trụ mấy tỉ năm nay
Mưa mỗi ngày!”
(Mưa tỉ năm)
Chương thứ hai “Biến” nhuốm màu ảm đạm của hỗn mang, của thảm họa xuất phát từ lòng dạ con người, nhào nặn nên những suy tư đau đáu hướng về hiện tại – tương lai của nhân loại. Từ khi nào nền văn minh ngày một tiến hóa của con người lại nồng nặc mùi thuốc súng và khói đạn? Phải đến bao giờ ước mơ hòa bình của những đứa trẻ không còn là một câu chuyện quá đỗi xa vời?
“Hai mươi tư giờ ngang qua chúng ta
Bao nhiêu nỗi lo, bao nhiêu nỗi nhớ?
Bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu nỗi sợ?
Bản tin sáng anh vừa đọc:
Trên bầu trời nước Nga một chiếc máy bay rơi.
Sau mấy nghìn năm nhân loại vẫn thế thôi
Vừa cố no cái bụng, vừa căng não lên, vừa đi giết người
Ai cũng muốn mình là số 1
Dù rất lâu rồi, Phật, Chúa đã sinh ra.
Hai mươi tư giờ cứ chạy đi chạy lại qua ta
Chạy từ bờ đông sang bờ tây trái đất
Cái “trái đất ba phần tư nước mắt”
Sau mấy nghìn năm nước mắt có khô đâu!
Nhà chính trị nói đến “nước giàu”
Nhà tôn giáo nói về “giải thoát”
Có những khi càng giàu càng giải thoát
Có những khi càng giàu càng mất mát nhiều hơn.
…
Bản tin đêm nay, bản tin của lòng em
24 giờ đi ngang qua tim
Giống như cầu Crimea
Nhỡ đâu tim bốc cháy…?”
(Hai mươi tư giờ ngang qua)
Tầng tầng lớp lớp các biến cố cứ xảy ra trong xã hội mỗi ngày, khung cảnh tang thương, mặt tối sâu thẳm trong lòng dạ con người được khắc họa vừa cụ thể vừa trừu tượng, như là hình ảnh một chú bé trong cuộc diệt chủng người Palestine của chính phủ Israel ngồi giữa đống đổ nát khiến bao trái tim phải thổn thức,
“Chú bé mặc áo Spiderman như con trai tôi
Rơi rớt lại giữa Gaza tàn phế
Trong chớp mắt, nhà cửa thành trận địa
Mất bố mẹ rồi, còn lại đạn pháo thôi.”
(Trái Đất – Túi đạn)
hoặc là ẩn dụ về tính kiêu ngạo và đố kị ẩn sâu trong tâm hồn, dần dần ăn mòn đi đạo đức,
“Trong thành phố chẳng có gì ngoài nhà
Trong nhà chẳng có gì ngoài người
Trong người chẳng có gì ngoài con ma định kiến
Tay hung khí, đầu vương miện
Hết ngày này sang ngày khác phán xét nhau.”
(Thuốc mê)
Chất liệu trong thơ Phan Đăng cực kì đa dạng. Đến với chương ba, “Mình”, ta như đi lạc vào mê cung hỉ nộ ái ố của cả kiếp con người, cuộn xoáy giữa cảm giác bình thản và những mặt đối lập va chạm mãnh liệt, vùng vẫy giữa vô vàn cái có lý và cái vô lý, loay hoay đi tìm cái tôi của tác giả, rồi soi chiếu ra cái tôi của chính ta. Ngôn từ anh viết ra rất thơ, rất trữ tình, lại có cả câu chữ đầy mạnh bạo, găm thẳng vào lẽ ngỡ như là dĩ nhiên của cuộc sống, cao giọng chất vấn sự ngang nhiên của trò đời.
“Ở thành phố này những giấc mộng tiêu tan
Nhưng người ta vẫn mộng,
Người ta vội chôn cả những điều chưa bao giờ sống
Trong cùng ngày chôn tôi.
Thành phố chiều nay mưa rơi
Hóa vàng không nổi!”
(Chôn)
Một điều đặc biệt của thơ Phan Đăng đến từ những cái tên. Những giá trị nhân văn của đời thường, những sự thật mà tất cả chúng ta đều phải chấp nhận và đối mặt được anh khéo léo lồng ghép trong hình ảnh của nhân vật lịch sử, của thế lực tâm linh tối cao. Thật vời vợi, mà hóa lại chẳng gần gũi lắm đó sao?
“Những bông hoa sa-la trên cao
Lặng lẽ rơi khi Đức Thế Tôn nhắm mắt
A-nan-đà bật khóc
Đức Thế Tôn bảo:
Tự ngươi phải cứu lấy chính mình!”
(Games cuối)
Đã hơn mười năm kể từ ngày Phan Đăng chính thức bước chân vào nghề báo, đến nay, ngòi bút của anh đã không ngừng được gọt dũa, trưởng thành hơn, phá vỡ bề nổi của lớp băng mỏng manh để khám phá thật sâu thế giới nội tâm bên trong mình. Những trải nghiệm, va vấp của cuộc đời, những chánh niệm rút ra từ những lần bình tâm thiền định, những kiến thức bản thân luôn hoài nghi, tất cả đều kiến thiết nên cái triết huệ của một người tu hành, cái ưu tư, cái hiên ngang của kẻ sĩ, dần chuyển dạ cho một tập thơ ra đời. Những triết lý sâu sắc, những góc nhìn phong phú của “Tôi ngỡ tôi là người” mang đến cho người đọc cảm giác an nhiên tự tại, rồi đột ngột đẩy cảm xúc lên tới cao trào.
“Ông bảo tôi nghĩ về Thượng đế
Trên mặt biển
Trong ngày bão giông
Thượng đế có thật không? Ông hỏi
Mặt biển có thật không? Tôi trả lời
Ông cười
Trong thoáng chốc tôi nhìn ra Thượng đế.
Ông bảo tôi nghĩ về áng mây
Sau cơn chuyển dạ đầu núi
Những miền không tăm tối
Trong cơ man tộc người
Mây bay qua đầu tôi
Vời vợi.
Những cơn đau ngày xưa
Cũng hóa mây rồi!”
(Thượng đế thoáng chốc)
Phan Đăng luôn có một sự khiêm nhường nhất định trước tri thức. Anh không thể hiện tất cả những gì mình biết trên trang giấy, mà giữ một không gian riêng cho mỗi cá nhân tự có cảm nhận của riêng mình. Sau mỗi chương thơ đều có một khoảng đen, để độc giả có thời gian nghiền ngẫm, liên kết lại những gì mình vừa đi qua. Ai đã đón đọc các tác phẩm trước của Phan Đăng đều có thể cảm nhận được phong cách rất riêng thấm đượm từng con chữ, và với tập thơ đầu tay, anh đã thành công bày ra một bữa tiệc thịnh soạn của câu từ vừa đạo vừa đời.
Yến Dung – Nhà Xuất bản Hội Nhà văn – 2026.
