Bảo Ninh*
Vào nghề văn, niềm vui lớn đối với tôi là được trở thành bạn của các nhà văn, nhất là các nhà văn mà trong những năm tuổi trẻ mình hằng ngưỡng mộ và ao ước một lần được gặp gỡ…”

Thưa, bác là nhà văn Chu Lai?”
Cùng lên từ tầng trệt, đến giữa chừng cao ốc thì chàng trai dáng dấp thư sinh ấy kính cẩn nhìn tôi hỏi vậy. Mấy người khác trong buồng thang máy hướng hết sang, ngạc nhiên, mừng rỡ.
Bởi đã cả chục lần rồi, hoặc hơn, được người ta hỏi thế nên không còn quá lúng túng, tôi trả lời chàng trai rằng, không, bác không phải nhà văn Chu Lai, bác là em họ ông ấy. Vợ tôi đứng bên lúc lên phòng khen tôi trả lời vậy là khéo, không gây khó xử cho người hỏi và cả cho mình. Đấy là lần vừa mới. Còn những lần trước, nhiều lần lắm, thì nói chung vừa thấy vui vui trong lòng lại vừa bối rối, nên, hoặc tôi hớt hải cải chính hoặc im lặng cười trừ. Nhưng không phải khi nào hai cách đó cũng ổn.
Chẳng hạn, có lần ngồi lai rai với mấy bạn nhà văn Văn Nghệ Quân Đội tại 17 Lý Nam Đế, một anh bàn bên, hàm trung tá pháo, xách hai vại bia to khủng đầy tràn bước sang, ấn tay tôi một vại, nồng nhiệt muốn tôi trăm phần trăm với mình. Anh nói hết sức vui mừng, vô cùng hân hạnh được gặp và được cụng với nhà văn Chu Lai. Lại lần, trong Thanh, kéo mấy ông bạn đi nhậu, lúc về, trả tiền, chủ quán nhất định không nhận, bảo: “Tôi vốn quân B2, rất ham văn chương chiến trường đời lính, quí nhất Nắng đồng bằng với Ăn mày dĩ vãng, nay được đón tiếp Nhà văn tác giả hân hạnh gì bằng, tiền nong gì chứ”!

Sau nhiều lần như vậy, tôi hỏi những nhà văn bạn hữu từng chứng kiến tình huống đó là mình trông có giống anh Chu Lai không, người bảo có nét, người bảo chẳng hề. Soi kỹ mình trong gương, tôi cũng thấy thế, chẳng hề. Nhà văn Chu Lai hơn tuổi nhưng trông trẻ hơn tôi nhiều. Một dung mạo đẹp, ngầu, rất đàn ông, rất lính. Và không nói hồi đang trung niên, cả bây giờ nhà văn cũng vẫn phong thái và dáng vóc chiến binh, cường tráng, mình trắm, cử chỉ nhanh gọn, động tác khoáng đạt, cái bắt tay rắn rỏi, giọng nói trầm, vang, lời lẽ thẳng thừng sắc nhọn mà hóm, vui và hiền. Trông ngầu nhưng không dữ, và nhất là không nhầu nhĩ; vẻ như tửu lực rất cao mà kỳ tình trong ba thứ lăng nhăng quấy quả đàn ông, thì ở anh bia rượu là thứ trước nhất bị trừ ra. Thuốc lá có hút, nhưng chừng mực. Sáng, chiều, cặm cụi bàn viết, chiều muộn, rất chuẩn giờ, anh chơi thể thao. Bóng chuyền, bóng bàn, bơi. Nghe nói có hồi cả đấm bốc nữa. Với cánh viết văn lớp sau cũng đồng thời là cựu binh lứa đàn em trung sĩ hạ sĩ kiểu như tôi, anh như là người đại đội trưởng, rất thân mật và chí tình, song tránh tụ bạ, không để bị phá sức và phá thì giờ.
Vậy thì vì sao? Trên xe buýt, xe hỏa, trên máy bay, trong phòng hội nghị, ở Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, cả trong quê, cả ngay tại chung cư nhà mình, khi có một người lạ tới gần vẻ rụt rè muốn cất lời, tôi có thể đón trước được là vị đó sắp hỏi gì. Diện mạo, cung cách không giống mà cứ thường xuyên có sự nhận lầm từ mình thành ra anh ấy như vậy thì hẳn là phải có một cái duyên do gì đó chứ. Nhưng là cái gì?
Vì cùng là bộ đội? Nhưng thời chúng tôi, tuổi trẻ ai chẳng quân ngũ chiến trường, các nhà văn nhà thơ lứa tuổi xêm xêm trên tôi bằng tôi hầu hết từng cầm súng, cầm súng rồi mới cầm bút, (nhà văn Chu Lai thì thậm chí còn là lính “cọp đen” đặc công chuyên trị ở trần lọ nghẹ dao găm thủ pháo luồn sâu mật tập căn cứ địch). Ngẫm ra thì thuở xa vời cũng có một dây mơ ngẫu nhiên: thân phụ anh, nhà văn Học Phi và nhạc phụ tôi, hai cụ sinh thời là hàng xóm, giáp vách, chung cầu thang, một biệt thự Tây cũ kỹ phố 325 (nay là phố Thể Giao). Nhưng thuở ấy chưa lập gia đình, tôi ít đến ngôi nhà đấy nên chưa một lần được thấy anh. (Lấy nhau rồi, có lần tôi gặng vợ là hồi nhỏ sống gần cạnh, vậy khi đã lớn, cấp 3 đại học, gặp nhà văn chiến sĩ Chu Lai từ mặt trận trở về có thấy làm sao đó trong lòng không. Vợ tôi chỉ cười không đáp, ý rằng vậy mà cũng phải hỏi).
Bản thân tôi thì mãi đến học khóa 3 Nguyễn Du mới được gặp nhà văn Chu Lai. Nhà văn không giảng dạy, chỉ thỉnh thoảng ghé thăm chúng tôi. Cả lớp mừng vui đón anh, và giời ạ, nhất là các cô nàng bạn học của tôi, họ bấn lên, rộn ràng nao nức, và rồi cả những nàng bên Đại học Văn hóa với Đại học Mỹ thuật nữa. Còn anh, như tôi thấy, giao tiếp cư xử với mọi người vừa đàng hoàng nghiêm ngắn tư cách quân nhân lại vừa thoải mái, cởi mở, đích thực phong thái một nhà văn trưởng thành lên từ đời lính và trận mạc, tự do, phóng khoáng và thật tình, đầy mãnh lực, rất cuốn hút chứ không mảy may điệu đà bộ tịch như thói thường mấy ông nổi tiếng. Yêu chuộng văn bút Chu Lai từ lâu, từ khi được đọc Nắng đồng bằng, giờ được gặp, nghe anh nói, chuyện cùng anh, tôi thầm hãnh diện trong lòng và qua mỗi lần gặp càng thêm quí trọng anh.
Những năm học trường Nguyễn Du và nhiều năm sau đó tôi thường được anh mời đến nhà, ở Phố nhà binh. Cơm trưa, cơm tối. Không uống, nhưng anh luôn sẵn rượu ngon đãi đằng anh em bạn hữu. Phu nhân anh, nhà văn Vũ Thị Hồng, là người chủ nhà nồng hậu mến khách. Tôi rất quí mến chị, nhất khi biết chị chính là nhà văn – nhà báo Bắc Hà của Chiến trường Khu Năm. Bọn tôi lính B3 ở tít trên non cao cũng nghe danh chị, đọc của chị và cả đã lần thấy bức ảnh chụp riêng chị đăng trên tờ “Tây Nguyên”. Nhà văn Chu Lai chiến sĩ đặc công miền Đông với nữ nhà văn xung kích Bắc Hà, thật là một mối kỳ duyên văn bút, và cũng thật là điển hình tuyệt đẹp cho tình yêu thời lửa đạn. Tôi nghĩ vậy. Từ đó, những khi đọc lại Nắng đồng bằng tôi mường tượng ra được trước mắt mình cụ thể diện mạo của chàng Linh lính trinh sát và dung nhan nàng du kích Năm Thúy.
Từ ngày nhà văn Chu Lai nghỉ Văn Nghệ Quân Đội và rời Phố nhà binh chuyển nhà sang Long Biên, thỉnh thoảng mới được gặp, nhưng tôi vẫn được đọc đều đặn của anh. Tôi đọc được đều đặn là bởi anh viết đều đặn, chưa kể truyện ngắn truyện vừa, tiểu thuyết của anh xuất bản qua từng năm đến nay đã gần hai chục cuốn, và nhất là, với tôi, những tác phẩm ấy đều hay và cảm động. Dĩ nhiên là tôi mãi đặc biệt yêu thích Nắng đồng bằng, và nữa là Ăn mày dĩ vãng, song những cuốn anh xuất bản về sau, nhất là những cuốn trung thành với đời bộ đội không hề xuống tay. Mà cụ thể là Mưa Đỏ cuốn gần đây nhất của anh. Từng trang một, từng dòng, sống dậy chân thực cận cảnh 81 ngày đêm bi tráng của Cổ thành, tôi đọc với niềm xúc động sâu xa, nhập tâm cùng tác giả trong nỗi hoài niệm chiến trường, sự xót xa thân phận con người (của cả hai bên) trong lửa đạn khốc liệt, và nhất là tình yêu, niềm nhớ thương đồng đội luôn nồng nàn sâu đậm trong câu chữ Chu Lai.
Vào nghề văn, niềm vui lớn đối với tôi là được trở thành bạn của các nhà văn, nhất là các nhà văn mà trong những năm tuổi trẻ mình hằng ngưỡng mộ và ao ước một lần được gặp gỡ. Thành thử, lần đầu khi có người nhầm mình với nhà văn Chu Lai thì tôi bối rối và cuống lên cải chính, nhưng những lần sau, tôi thầm thấy vui và thấy tự hào.
Bảo Ninh – Hà Nội – 2018.
