Maxim Gorky, nhà văn nổi tiếng nhất Liên Xô nay gần như bị lãng quên

Tô Hoàng (dịch)

Ngày 18 tháng 6 năm 1936, Maxim Gorky qua đời tại biệt thự nhà nước ở Gorki-10, Odintsovo, gần Moscow. Ông rất yêu nơi này. Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng “Cuộc đời Klim Samgin”, các vở kịch “Dostigaev và những người khác”, “Yegor Bulychev và những người khác”, và các bài báo có ảnh hưởng của ông đều được viết tại đây.

Nhà văn Maxim Gorky(1868 – 1936).

Tại biệt thự này, ông đã tiếp đón Romain Rolland, Konstantin Fedin, Alexander Fadeyev, Vikenty Veresayev và Alexei Novikov-Priboy. Thư ký riêng của ông, Pyotr Kryuchkov, luôn ở bên cạnh ông. Chính ông này là người thông báo rằng thời gian của Gorky đã sắp hết. Stalin, Molotov và Voroshilov đã khẩn trương đến để tiễn biệt người sáng lập nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Nhiều huyền thoại đã được tạo ra về cuộc đời của nhà văn vĩ đại người Nga. Sau khi ông qua đời, chúng đã nhân lên đáng kể. Các bách khoa toàn thư, sách tham khảo và tuyển tập tác phẩm hiện nay đều gọi Maxim Gorky là một “nhà văn vô sản”. Tại sao lại như vậy? Có lẽ vì một số nhân vật của ông được tìm thấy “ở tầng lớp dưới đáy”? Hay phải chăng đó là vì tuổi thơ và tuổi trẻ của nhà văn thực sự cay đắng và vô vọng? Nhưng ông đã viết nên những tác phẩm văn xuôi tinh tế và điêu luyện về tình yêu. Gorky cũng đã viết rất nhiều và khéo léo về những người mà ngày nay chúng ta gọi là “người Nga mới” – những thương gia triệu phú giàu có, cuộc sống thường nhật và lối sống của họ. Cũng đừng quên rằng Gorky đã sống phần lớn cuộc đời mình trong sự thoải mái của xã hội quý tộc, nổi bật ngay cả giữa những nhà văn được trả lương cao khác. Sự vị tha của Gorky được nhiều người biết đến; ông đã hỗ trợ (cả về sáng tạo và vật chất) cho nhiều nhà văn và đồng bào đang gặp khó khăn. Cũng cần nhớ rằng một phần đáng kể thu nhập của ông được dành cho việc sinh hoạt và ăn uống của những người thường xuyên lui tới nhà ông, những người có thể được gọi một cách chính đáng là “những kẻ bám víu”.

Cuộc đời của Gorky không kém phần kịch tính và hấp dẫn so với số phận của các nhân vật trong tác phẩm của ông. Có rất ít nhân vật văn học trên thế giới trải qua sự thăng tiến kỳ diệu như vậy: từ một tuổi thơ nghèo khó, vô gia cư đến hàng ngũ những người cai trị các quốc gia rộng lớn, những người đã điều hành đất nước.

Từ một người đàn ông 20 tuổi viết đầy lỗi và hiểu biết kém về dấu chấm câu, Gorky đã trưởng thành thành một nhà văn tài hoa và một người am hiểu sâu sắc về tâm hồn con người. Người nào đây, trong suốt cuộc đời mình, lại được chứng kiến một thành phố, một con tàu hơi nước, một nhà hát, và thậm chí cả một chiếc máy bay mang tên mình? Vào những thời điểm khác nhau và bằng những cách khác nhau, ông được yêu mến và cũng bị nể sợ, nhưng ông luôn được những người như Lenin, Stalin, và thậm chí cả Mussolini tôn trọng. Trong suốt cuộc đời, Gorky được tôn sùng ở Liên Xô. Sau khi ông qua đời, ông trở thành biểu tượng của chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ của một kỷ nguyên mới.

Những người cùng thời với Gorky ngày nay cũng đã bị lãng quên. Tất nhiên, không phải tất cả đều đáng bị lãng quên. Gorky, người đã trải nghiệm danh tiếng mà ngay cả Leo Tolstoy và Fyodor Dostoevsky chưa từng đạt tới trong đời, ngày nay lại ít được thế hệ trẻ biết đến. Nhưng quan trọng hơn, cuộc đời và tác phẩm của ông vẫn tiếp tục khơi dậy những cuộc tranh luận sôi nổi. Các kho lưu trữ trước đây bị đóng kín, bao gồm của cả các cơ quan mật vụ, đang được mở ra; các tài liệu chưa được biết đến và lời chứng từ những người cùng thời với ông đang xuất hiện. Tiểu sử và số phận của ông gây nhiều tranh cãi. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi hai trong số những học giả nổi bật nhất hiện nay nghiên cứu về Gorky là Pavel Basinsky (Gorky từ loạt sách ZhZL) và Vadim Baranov (tác giả của “Gorky không trang điểm: Bí mật của cái chết và Nữ bá tước và chim hải âu bão tố”), sử dụng cùng một nguồn tài liệu, đã viết những cuốn sách hoàn toàn khác nhau và rất hay.

Cuộc đời và sự nghiệp của Gorky diễn ra trong một thời kỳ vô cùng sôi động. Ông đã chứng kiến, và đôi khi trực tiếp tham gia, ba cuộc cách mạng Nga và Nội chiến. Trong thời kỳ “lên ngôi” của ông, Đế quốc Nga vĩ đại sụp đổ, và từ đống đổ nát, Liên Xô hùng mạnh trỗi dậy, khiến các nước láng giềng khiếp sợ.

Không giống như Vladimir Lenin, người để lại một di sản lý luận và thư từ đồ sộ và sau chiến thắng của cuộc cách mạng, hầu như lại không quan tâm đến tiểu thuyết, Joseph Stalin là một người đọc sách chăm chú. Một số tác phẩm ông đọc kỹ lưỡng đã khiến ông phải trả giá đắt. Những huyền thoại sau này do Khrushchev lan truyền về sự thiếu hiểu biết của Stalin hoàn toàn vô căn cứ. Vị lãnh đạo, với chiếc bút chì đỏ nổi tiếng của mình, đã đọc kỹ và gạch chân hầu hết mọi tác phẩm quan trọng của các nhà văn, nhà thơ và nhà soạn kịch Liên Xô. Stalin tích cực tham gia vào việc thành lập các liên đoàn sáng tác và tìm cách hỗ trợ vật chất cho các nghệ sĩ trung thành với chính quyền. Chúng ta đừng quên rằng chính Stalin là người đã sáng lập và phát triển cái mà chúng ta gọi là “quản lý văn hóa”. Đừng quên thời Liên Xô Stalin đã  ân xá và nâng cao vị thế cho một số nhà văn, nhà thơ (V. Mayakovsky, A. Tvardovsky, S. Mikhalkov, A. Fadeyev, M. Sholokhov, K. Simonov, A. Tolstoy, K. Fedin), xử tử những người khác (O. Mandelstam, M. Koltsov, I. Babel, B. Pilnyak), cũng như đã xóa tên một số người khỏi danh sách các nhà văn (A. Akhmatova, B. Pasternak, M. Bulgakov, A. Platonov, E. Zamyatin).

Maxim Gorky không thuộc bất kỳ nhóm nào trong số này. Ông là một nhà văn nổi tiếng thế giới, một người bạn của Lenin, người đã hỗ trợ cách mạng bằng lời nói và tiền bạc. Uy tín cá nhân và nguyên tắc đạo đức của Gorky là hoàn hảo trong mắt công chúng. Không thể ép Gorky không viết, hoặc viết những gì ông không muốn. Thậm chí những việc ấy còn khó hơn nữa là bịt miệng ông. Nhưng ông có thể bị lợi dụng. Stalin đã thành công rực rỡ. Một số nhà phê bình cáo buộc nhà văn này là kẻ cơ hội, là người cố gắng “làm hòa với chính quyền”. Nhưng một người sáng tạo không chỉ là một nhà thơ, nhà văn hay nghệ sĩ. Anh ta còn là một con người không hề sống trên một hòn đảo, không hề sống trong chân không. Và điều này là bình thường nếu một nghệ sĩ, mà không tự hủy hoại bản thân, không tự hạ mình như một tấm thảm chùi chân, mà tham gia vào cuộc đối thoại với người khác.

Những nhân vật văn chương vĩ đại như Bulgakov, Pasternak và Zoshchenko đã viết về Stalin, dành tặng thơ và văn xuôi cho ông. Họ đủ linh hoạt để viết và lưu giữ những tác phẩm vĩ đại của mình cho chúng ta ngay cả trong những năm tháng thảm khốc nhất. Trong lịch sử văn hóa Nga sau Cách mạng Tháng Mười, nhiều người đã  biết đến một nhà thơ vĩ đại duy nhất không hiểu tại sao cần phải tham khảo ý kiến của chính quyền. Osip Mandelstam vô cùng dũng cảm. Dũng cảm đến chết người. Và đây không phải là sự giả tạo, không phải là một lời thách thức. Đó là tâm lý bẩm sinh, không phải là học hỏi. Khi Mandelstam đọc bài thơ nổi tiếng “Chúng ta sống, không cảm nhận được đất nước bên dưới” cho Pasternak nghe, Pasternak sững sờ nói với ông: “Những gì anh vừa đọc cho tôi nghe không phải là một hành động văn chương, mà là một hành động tự sát”. Maxim Gorky không có ý định tự sát. Nhưng ông khá gay gắt trong thư từ trao đổi với Stalin. Học giả Vadim Baranov chuyên nghiên cứu về Gorky tin rằng nhà văn đã có ảnh hưởng kiềm chế đối với Stalin, phản đối những “sự thái quá” của ông này. Ảnh hưởng của Gorky cũng rất đáng kể trong bài báo “Say sưa với thành công” của Stalin. Trong số những ký ức tuổi thơ nhiều người còn nhớ một tiệm bánh lớn ở trung tâm Baku. Ngay phía sau tủ trưng bày, một bức tranh khảm trên tường mô tả Stalin đứng sừng sững giữa cánh đồng lúa mì, mặc bộ quân phục trắng của một vị tướng. Nguyên soái Voroshilov thong thả bước đi phía sau ông, vì lý do nào đó lại mặc một chiếc áo sơ mi thêu của Ukraina. Và ở đâu đó phía xa, đội một chiếc mũ Panama lố bịch và thắt một chiếc cà vạt xoắn, với một nụ cười hiền hậu, nịnh nọt, là Maxim Gorky. Đây chính xác là cách Stalin muốn “nhà văn vô sản” vĩ đại xuất hiện ở đâu đó phía sau ông, không quá xa, và nhất thiết phải đi theo con đường mà nhà lãnh đạo đã vạch ra. Là một người mưu mô xảo quyệt trong đảng, Stalin đã xoay sở để vượt mặt những người như Trotsky, Bukharin, Rykov, Kamenev và Zinoviev. Xét cho cùng, quyền lực và đóng góp của họ cho cuộc cách mạng lớn hơn Stalin, và họ cũng thông minh hơn.

Nhưng với Gorky, mọi chuyện phức tạp hơn thế nhiều. Gorky lần đầu biết đến Stalin qua một bức thư Lenin viết cho ông vào tháng 2 năm 1913. “Tôi hoàn toàn đồng ý với ông về chủ nghĩa dân tộc; chúng ta cần phải xem xét vấn đề này nghiêm túc hơn. Chúng ta có một người Gruzia tuyệt vời ( Stalin ) đang ngồi xuống và viết một bài báo dài, thu thập tất cả các tài liệu lịch sử và các tài liệu khác”. Chính Stalin cũng nhớ đến Gorky vào cuối những năm 1920, sau loạt bài báo “Những suy nghĩ không đúng lúc” của nhà văn này, trong đó đánh giá tiêu cực về Cách mạng Tháng Mười. Từ giữa những năm 1920, Stalin bắt đầu tích cực mời Gorky, người đã sống ở Ý nhiều năm, trở về nước. Uy tín sáng tạo và đạo đức của nhà văn, danh tiếng toàn cầu của Gorky là vô cùng to lớn. Tuy nhiên, tại sao Stalin lại cần Gorky đến vậy? Nhà viết tiểu sử Gorky, Pavel Basinsky, tin rằng Gorky là một “lá bài tẩy” quốc tế quan trọng. Vadim Baranov, tác giả cuốn sách “Gorky không trang điểm: Bí ẩn của cái chết” tin chắc rằng Stalin cần Gorky để củng cố vị thế của mình trong Liên Xô. Có thể bổ sung thêm ý kiến : Stalin không chỉ dọn đường cho quyền lực của bản thân. Nhà lãnh đạo này cũng đang tự giải thoát mình khỏi nhóm tùy tùng của Lenin, những người đã ngăn cản ông thiết lập một chế độ độc tài toàn diện. Gorky được định sẵn cho một vị trí chủ chốt trong cấu trúc phức tạp này. Gorky được cho là sẽ giúp hợp pháp hóa Stalin như một chính trị gia khôn ngoan và công bằng trong mắt thế giới, và ở Nga, để tổ chức các nhà văn – “những kỹ sư của tâm hồn con người” – thành một liên minh ca ngợi “người duy nhất”. Stalin đã không hoàn toàn thành công trong việc này. Còn một lý do khác nữa. Có những bức ảnh còn sót lại cho thấy Gorky hào hứng chơi cờ với Lenin. Stalin không phải là một người chơi cờ giỏi, nhưng trong chính trị, ông luôn lên kế hoạch cho trò chơi của mình trước nhiều bước. Stalin đã quyết định về các phiên tòa lớn, hiểu rằng sẽ có rất nhiều nạn nhân – hàng triệu người. Cũng đã có những ứng cử viên cho các phiên tòa đầu tiên. Đây là những đồng chí của ngày hôm qua—các thành viên của Bộ Chính trị. Rõ ràng là “con chim hải âu dữ dội của cuộc cách mạng” sẽ lên tiếng bảo vệ họ. Vì vậy, sẽ tốt hơn nếu Gorky không chỉ thỉnh thoảng về thăm Nga mà nên định cư lâu dài ở Nga, ở đâu đó gần đó, trong tầm tay. Phòng trường hợp cần thiết. Stalin đã tìm cách lôi kéo Gorky vào các chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn. Cùng với các đặc vụ Cheka và con dâu của mình, Gorky đã đến thăm trại giam lớn nhất thời bấy giờ trên quần đảo Solovetsky. Đây là cách Alexander Solzhenitsyn mô tả sự xuất hiện của ông trên đảo: “Đó là ngày 20 tháng 6 năm 1929. Nhà văn nổi tiếng đã xuống tàu tại bến tàu ở vịnh Blagodenstvie. Bên cạnh ông là con dâu, toàn đồ da (mũ da đen, áo khoác da, quần da và ủng cao, hẹp)—một biểu tượng sống động của cơ quan mật vụ sát cánh cùng văn học Nga”. Chúng ta đừng quên rằng đó là năm 1929. Trại giam này là một hình mẫu, một “kiệt tác”. Đất nước lúc đó chưa bị cuốn vào làn sóng đàn áp tàn bạo, không khoan nhượng. Solovetsky giam giữ nhiều tội phạm, tù nhân “cũ” (sĩ quan, quan chức chính phủ Sa hoàng, giáo sĩ), nhưng cũng xuất hiện những “người chính trị” đầu tiên. Gorky không hiểu hết mọi chuyện, không nhận ra đất nước đang đi về đâu. Nhưng ông ta đã rút ra được kết luận từ những ảo tưởng của mình. Ngày 21 tháng 12 năm 1929, Stalin tròn 50 tuổi. Một dàn đồng ca của những kẻ nịnh hót vang dội khắp đất nước. Gorky cũng gửi cho ông ta một bức điện tín:”Chúc mừng. Tôi bắt tay ông thật chặt, Gorky”. Chẳng lẽ giọng điệu đột ngột, không hề mang tính chúc mừng này không nói lên điều gì sao?.Và điều quan trọng nhất là Stalin đã không thể hiện thực hóa giấc mơ ấp ủ của mình: Gorky đã không viết bài điếu văn nào để vinh danh ông ta. Những nỗ lực kiên trì và quyết liệt nhất để làm điều đó sẽ được thực hiện. Stalin biết cách chờ đợi thời cơ, biết cách hành động thông qua nhiều mưu chước, cạm bẫy khác…

Con người nhỏ bé có những điểm yếu nhỏ bé, con người vĩ đại có những điểm yếu lớn lao. Gorky sống một cuộc đời dài. Ông kết hôn một lần với Ekaterina Pavlovna Volzhina (Peshkova). Cuộc hôn nhân này sinh ra một con trai, Maxim, và một con gái, Katya, đã mất sớm. Nhà văn còn có thêm hai cuộc hôn nhân không chính thức nữa với những người phụ nữ nổi tiếng thời bấy giờ—nữ diễn viên Nhà hát Nghệ thuật Moscow Maria Andreyeva và Nữ bá tước Maria Budberg. Người phụ nữ thứ ba đáng được nhắc đến đặc biệt. Một bức tượng đồng đúc bàn tay phải của Maria Budberg luôn được đặt trên bàn làm việc của Gorky. Vô số kỷ niệm về người phụ nữ này vẫn còn lưu giữ. Tuy nhiên, bản thân bà dù sống rất lâu, nhưng không để lại hồi ký nào. Bà cũng giữ bí mật về cái chết (hay cái chết tự nhiên?) của Gorky. Có lẽ bà là người phụ nữ duy nhất chơi một trò chơi chết người với Stalin mà không thua cuộc. Trừ khi, tất nhiên, bạn coi cái chết của Gorky là một thất bại. Tất cả những người từng tiếp xúc với người phụ nữ này đều thừa nhận sự quyến rũ và lôi cuốn đáng kể của bà. Không ai coi bà là một femme fatale (người phụ nữ quyến rũ chết người), nhưng ảnh hưởng của bà đối với những người đàn ông xung quanh vẫn là điều khó giải thích.

Gorky cũng đã thay đổi khi ở bên bà. Con chim hải âu của cuộc cách mạng thể hiện một sự linh hoạt nhất định, quan điểm chính trị và văn chương của ông phát triển. Những nhân vật quan trọng thời bấy giờ như Freud, Nietzsche, Rilke và Stalin đều bị bà mê hoặc. Cả những người tình của bà bao gồm các lãnh đạo Cheka như Peters và Yagoda. Bà Maria là vợ không chính thức—và tại một thời điểm cùng lúc (!)—của những nhân vật vĩ đại của thế kỷ 20 như Maxim Gorky và H.G. Wells. Nhưng tình yêu duy nhất của bà, dường như, là sĩ quan tình báo Anh Bruce Lockhart. Đối với Gorky, Maria, hay Mura, như bà được biết đến, cũng là một nàng thơ, bắt đầu từ năm 1919. Ông đã dành tặng cuốn tiểu thuyết cuối cùng của mình, “Cuộc đời của Klim Samgin” cho Maria Budberg. Đối với Stalin, Maria là người được cho là “giúp” Gorky kết bạn đúng người, viết đúng cách và cư xử đúng mực. Trong khi bao quanh Gorky bằng sự chăm sóc và quan tâm, Stalin đồng thời bao quanh ông bằng những người của riêng mình. Stalin xây dựng các chính sách của mình, như người ta nói ngày nay, một cách có hệ thống. Maria Budberg là một người rất có giá trị trong khía cạnh này. Bà không chỉ là tình yêu lớn của nhà văn, mà còn quản lý thư từ, công việc sáng tác và tài chính, cũng như việc điều hành ngôi nhà lớn của ông. Gorky cũng lắng nghe cả những lời khuyên chính trị của bà, có thể nói như vậy. Nhưng quan trọng hơn cả, Mura Buberg không phải là một mỹ nhân, lại là một người có sức hút hiếm có, có khả năng tạo ra một bầu không khí đặc biệt xung quanh mình. Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Nga Alexander Blok đã dành tặng một trong những bài thơ hay nhất của mình cho Maria Budberg:

Em không thuộc về anh.

Tại sao anh lại thấy em trong giấc mơ?

Đôi khi một giấc mơ – lặp đi lặp lại suốt đêm:

Như  một hiệp sĩ nhìn thấy một quý cô,

như một người bị thương mơ thấy kẻ thù,

Một người lưu vong nhìn thấy quê hương của anh ta,

Và một thuyền trưởng nhìn thấy đại dương,

Và một thiếu nữ nhìn thấy một làn sương hồng…

Từ ngòi bút nhẹ nhàng của Nina Berberova, vợ của Vladislav Khodasevich, Maria Budberg hiện lên như “Mata Hari Đỏ” – một điệp viên của tất cả các cơ quan tình báo châu Âu hiện có.

Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Gorky “Cuộc đời của Klim Samgin”, là một trong những tác phẩm Stalin yêu thích. Nhưng tất cả điều này đều không thể kiểm chứng; không có sự thật nào, chỉ có những suy nghĩ cá nhân, phỏng đoán, giả thuyết, và đôi khi là những tưởng tượng hoàn toàn vô nghĩa. Thật thô thiển khi cho rằng Budberg đã viết các báo cáo bí mật gửi về Lubyanka-trung tâm KGB và nhận tiền cho việc đó. Về bản chất, bà đóng một vai trò đặc biệt. Ngày nay, điều này sẽ được gọi là “điệp viên gây ảnh hưởng”. Nhưng điều đáng sợ nhất là một số nhà nghiên cứu hiện đại tin rằng Maria Budberg đã sát hại nhà văn. Không có bất kỳ bằng chứng nào, họ vẽ nên những bức tranh hoang đường về các cuộc gặp bí mật của Muria với Stalin. Họ nói về những viên kẹo tẩm độc do Stalin gửi cho Gorky. Họ ám chỉ đến những viên thuốc mà Mura liên tục ép nhà văn uống trên giường bệnh. Tuy nhiên, Gorky lúc đó đang bị bệnh nặng, không có chế độ ăn kiêng nào. Bất chấp lời khuyên của bác sĩ, ông hút tới 75 điếu thuốc mỗi ngày. Viện sĩ Yevgeny Chazov gần đây đã nghiên cứu bệnh sử của nhà văn. Ông viết: “Về nguyên tắc, sẽ không cần thiết phải xem xét lại vấn đề về tính chính xác chẩn đoán của Gorky, vì ngay cả với các phương pháp điều trị hiện đại, chưa kể đến những khả năng của năm 1936, bệnh lý được mô tả ngay cả trong một báo cáo ngắn gọn cũng dẫn đến kết cục tử vong”. Những người thân cận với nhà văn nhớ lại rằng việc ông trở về Nga đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của ông. Bệnh viêm phổi nặng hành hạ nhà văn già. Nếu Gorky cần bị thủ tiêu, Stalin hẳn đã tìm ra một phương pháp ít kỳ lạ hơn là “hộp sô cô la” khét tiếng. Chúng ta cũng cần nhớ rằng không ai liên quan đến vụ việc như vậy được phép rời khỏi đất nước. Muria  đã rời đi an toàn. Đúng là có cái giá phải trả. Có lẽ là bằng mạng sống của những người khác. Chúng ta đang nói về một ân huệ thực sự dành cho Stalin. Đây là về công lao mà Maria Budberg đã cống hiến cho Stalin và KGB.

Khi trở về Nga, Gorky đã mang theo kho lưu trữ của mình. Nhưng không phải tất cả. Một vài thùng thư từ và ghi chú của nhà văn rất được Moscow quan tâm. Chúng cũng tiềm ẩn nguy hiểm chết người đối với những người đã gửi gắm suy nghĩ, cảm xúc và nỗi lo lắng của mình lên giấy. Berberova mô tả phần này của kho lưu trữ: “Đây là những lá thư từ Pyatakov, Rykov, Krasin (và có lẽ cả Trotsky nữa). Sau khi thoát khỏi vòng vây mà sự củng cố quyền lực của Stalin dần dần bao vây họ, họ đã viết thư cho Gorky, vì quen biết ông, yêu cầu ông lên tiếng chống lại chế độ chuyên chế.” Rõ ràng, Gorky hiểu được mối nguy hiểm chết người của kho lưu trữ này và không muốn mang nó về Nga. Chi tiết của câu chuyện này vẫn chưa được giải đáp, nhưng kho lưu trữ đã được người giữ giấy tờ, Maria Budberg, chuyển giao (hoặc giao lại cho những người chuyển giao) đến Moscow. Sau khi Gorky qua đời, Muria sống ở London. H.G. Wells cảm nhận về bà như thế nào? “Maria là người phụ nữ tôi thực sự yêu. Tôi yêu giọng nói của cô ấy, sự hiện diện của cô ấy, sức mạnh trong sự yếu đuối của cô ấy. Tôi vui mừng mỗi khi cô ấy đến với tôi. Tôi yêu cô ấy hơn bất cứ điều gì trên thế giới này. Với một tình yêu như vậy, tất cả những gì tốt đẹp và tất cả những gì xấu xa đều ít nhất cũng đáng để quan tâm, nhưng điều quan trọng nhất, sâu sắc nhất—tình yêu của tôi dành cho Maia—luôn luôn không thay đổi”. Như bạn thấy đấy, người Anh lạnh lùng, vô cảm cũng có thể như vậy. Năm 1974, ngay trước khi Maria qua đời, một chiếc xe lưu động ở London đã bị cháy rụi, nơi chứa kho lưu trữ cá nhân của bà, thứ mà nhiều cơ quan tình báo sẵn sàng trả một khoản tiền khổng lồ để mua lại. Một số người tin rằng chính bà đã ra lệnh đốt cháy nó. Giờ đây, không ai biết được những gì đã bị thiêu rụi trong số những giấy tờ đó: thư từ, lời thú tội, những tiết lộ của ai. Trong cáo phó của bà, tờ “The Times” gọi Maria là “nhà lãnh đạo trí thức của nước Anh hiện đại, người trong suốt bốn mươi năm đã đứng ở trung tâm đời sống trí thức và quý tộc của London”. Maria Budberg sống lâu hơn chồng mình là Ivan Benckendorff 57 năm, Maxim Gorky 38 năm, Yakov Peters 37 năm, H.G. Wells 28 năm và Bruce Lockhart 4 năm.

T.H (dịch)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *