Hình tượng nghệ thuật đặc sắc và hai thủ pháp nghệ thuật được yêu thích trong thơ Nguyễn Việt Chiến

PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh

Dù mới đọc thơ và trường ca của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, tôi nhận thấy có hàng loạt vấn đề thú vị, xứng đáng là những đề tài cho luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ: – Truyền thống và cách tân trong thơ Nguyễn Việt Chiến; Tính triết luận trong thơ Nguyễn Việt Chiến; Cảm hứng ngậm ngùi trong thơ Nguyễn Việt Chiến; Truyện ngắn thơ của Nguyễn Việt Chiến dưới góc nhìn thể loại; Yếu tố cách tân trong thơ lục bát của Nguyễn Việt Chiến…

Nhà phê bình, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.
1. Từ quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Việt Chiến
Trong “Đôi điều tự bạch, suy ngẫm về thi ca” mở đầu tác phẩm này, Nguyễn Việt Chiến, với kiến văn giàu có của mình, đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan đến quan niệm về thơ, quá trình sáng tác, quá trình tiếp nhận thơ Việt Nam hiện đại. Những ý kiến của anh vừa được soi sáng bằng trí thức hàn lâm vừa có sự tươi xanh của thực tiễn sáng tác, của kinh nghiệm cá nhân. Tựu chung lại có một số điểm đáng lưu tâm trong quan niệm nghệ thuật (dù anh không dùng khái niệm này) của Nguyễn Việt Chiến.
Thứ nhất: vấn đề trọng tâm của thơ là nỗi đau thân phận con người, được phản ánh bằng cả suy tư của lý trí và cảm xúc của trái tim.
Thứ hai: Cách tân thơ không chỉ ở hình thức nghệ thuật thơ mà còn ở nội dung đời sống theo một trường thẩm mĩ nhất định, có tính thời đại, tính lịch sử.
Thứ ba: Thơ hay trước đây là những tấm gương “có tính điển hình”, soi vào đó “tôi” nhận ra chính mình và thấy cả “chúng ta”. Còn thơ hay hôm nay làm chúng ta kinh ngạc trước những hình tượng mới, suy tư mới. Nghĩa là các yếu tố kể trên đạt tới tính “siêu điển hình”, định hướng để người đọc khát khao vươn tới.

Thứ tư: Thơ hay là gì? Câu hỏi muôn thuở không có câu trả lời đúng duy nhất, nhưng có lẽ đó là thơ, thơ hay là thơ còn lại sau thử thách nghệ thuật nghiệt ngã của thời gian. Nguyễn Việt Chiến nhấn mạnh: – phát hiện, xây dựng các tứ thơ cho các bài thơ là điều quan trọng, ở đây, Nguyễn Việt Chiến có cách nói sinh động, để biến điều phức tạp thành đơn giản: – Bài thơ là một sinh thể thơ ca. Trong đó, cảm xúc là da thịt tươi mới, ý tưởng (đến từ suy tư của của trí tuệ) là xương cốt vững chắc cho sinh thể kia; Tứ thơ là linh hồn của sinh thể thi cả ấy… (và còn một số vấn đề khác mà tôi không đủ thời gian trình bày ở đây). Tuy nhiên, quan niệm nghệ thuật là kim chỉ nam, là ánh sáng soi đường cho thực tiễn sáng tác của một nhà thơ. Các luận điểm lớn kể trên đã hiện diện tinh tế qua một số điểm nhấn trong “Thơ và trường ca” của Nguyễn Việt Chiến.

Từ trái sang: nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư, nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và nhà văn Đào Quốc Vịnh.
2. Một số điểm nhấn đặc sắc
2.1. Ba hình tượng nghệ thuật có sức lay động và ám gợi, trong đó có một hình tượng được lặp lại, nhiều lần, trở thành biểu tượng nghệ thuật có tính đa nghĩa.
Đọc tập Thơ và Trường ca của Nguyễn Việt Chiến, tôi nhận thấy có ba hình tượng kết tinh hài hoà những suy tư, mang màu sắc triết học cùng chất thơ của nhà thơ, đó là Cỏ, Cát và Mưa.
Thực ra, trong Từ điển Biểu tượng văn hoá thế giới, các hình tượng như cỏ, cát, mưa đều gắn với Mẫu gốc như nước, đất, cùng các hình ảnh phái sinh chúng, tuy nhiên tìm nguồn gốc của các hình tượng thơ kể trên mang nặng tính lý thuyết, có tính hàn lâm, dành cho người nghiên cứu văn học. Còn trong thực tiễn sáng tác, các nhà thơ ít quan tâm đến cái gọi là “Mẫu gốc” hay “Cổ mẫu” ấy tuỳ thuộc vào cá tính sáng tạo độc đáo với người viết trẻ có tài năng, sau này là phong cách nghệ thuật độc đáo (với các tài năng lớn rất hiếm hoi). Các hình tượng thơ là sản phẩm nghệ thuật đặc thù của từng tác giả tài năng, hình thành bằng cả ý thức và vô thức, là phương tiện hữu hiệu để nhà thơ “điểm chỉ vân tay thơ” của mình vào nèn thơ dân tộc, hoặc thế giới ở thời đại ấy (ở đây còn có tính nhất thời hay tính muôn đời, tương đối phức tạp).
Ngay trong một bài thơ của mình Nguyễn Việt Chiến đã xác định ba hình tượng thơ – ba hình tượng nghệ thuật tâm đắc này;- chúng ta không thể nào hiểu được ngôn ngữ của loài kiến, con người bất lực trong cách giải thích, bởi chúng ta, chẳng có gì cả ngoài cát và mưa và cỏ, những nỗi buồn…
(Ánh sáng)
Ở ý nghĩa khái quát chung nhất, ba hình ảnh tượng trưng cỏ, cát, mưa ấy nói về vẻ đẹp và sức mạnh vừa nhỏ bé phi thường của sự sống. Như trong từng bài thơ cụ thể các hình ảnh ấy còn mang các ý nghĩa tượng tượng khác nhau.
– Thứ nhất: Hình tượng Cát
Trong bài thơ Cát đợi, Nguyễn Việt Chiến đã viết;
Tôi cầm hạt cát trên tay, đêm không còn ấm như ngày có em. Tôi cầm cả chính tôi lên, câu thơ nhặt được phía miền quạnh hiu. Câu thơ như cát mỗi chiều, đem theo chút ấm nằng nghèo vào đêm…
(Cát đợi)
Hình tượng cát trong bài thơ trên tượng trưng cho thân phận, cho thơ của nhân vật trữ tình “tôi” tưởng nhỏ bé mà phi thường, giản dị mà thiêng liêng khi vẫn góp cho đêm dù chỉ chút ấm nắng nghèo. Cát là người thơ, là thơ của người ấy, nhỏ nhoi mộc mạc nhất mà cũng bền bỉ vĩnh hằng nhất.
– Thứ hai: Hình tượng cỏ
Chúng ta đọc rồi rưng rưng… Chiến tranh là nơi ngọn cỏ, cao hơn tất cả chúng ta, những người lính bị đốn ngã, xanh xao hơn mọi hận thù… (Vô danh trận mạc).
Trong bốn chủ đề lớn trong tập thơ và trường ca này, Nguyễn Việt Chiến đặt nỗi đau chiến tranh lên vị trí số 1: – Nỗi đau chiến tranh, Mỗi bất hạnh của thân phận người, Thơ tình yêu của lứa đôi; Chủ đề biên giới hải đảo. Với chủ đề số 1 này, Nguyễn Việt Chiến có những câu thơ làm tôi chảy nước mắt: – Đại bác nổ và tiểu liên đốn gục những chàng trai vui tính nhất sư đoàn. Trên môi họ nụ cười còn thoáng gặp, cô gái nào chiều ấy đợi bên sông… (về khổ đau và đại bác) Chính sự hi sinh của những người lính từ tả thực đã được nâng lên tầm triết luận và gắn với hình tượng cỏ; – chiến tranh là nơi ngọn cỏ cao hơn tất cả chúng ta, những người lính bị đốn ngã, xanh tất cả chúng ta những người lính bị đốn ngã, xanh xao hơn mọi hận thù… (vô danh trận mạc). Trong chiến tranh, những người lính đã ngã xuống ấy vô danh như cỏ – nhưng đó là loài cỏ thiêng cao hơn tất cả chúng ta, bởi họ chết để lại chúng ta được sống hanh phúc. Sự hi sinh của họ để đi tới việc cởi bỏ hận thù hôm nay.
Thứ ba: Hình tượng mưa được lặp lại nhiều lần để trở thành biểu tượng nghệ thuật có tính đa nghĩa.
Trong bài Mưa Cúc Phương, mưa là nhân vật chứng kiến “Anh” với Cúc Phương, vừa tượng trưng cho dòng thời gian trôi chảy: – ở đây mưa rơi không thành tiếng, chỉ còn lại mình anh với Cúc Phương mưa…
Nhưng đến bài Những đêm mưa dài ở vùng than, mưa lại là biểu tượng cho thời gian quá khứ đen tối, khi cả dân tộc còn chìm trong kiếp nô lệ; – vì sao những cơn mưa tối tăm kéo về hành hạ, mảnh đất này (…) Đất nước những đêm mưa dài, những ngày buồn không biết trốn vào đâu.
Rồi mưa trong trẻo, thâm trầm là biểu tượng cho văn hoá Huế; – Mưa trong nước trong dặng cây trong mái chùa, trong con nghê đá, trong mấy hàng ao tím trong, mơ màng như khói trên dòng sông mưa, sông như bầu rượu ngàn xưa, (Huế say rượu ngủ trong mưa kinh thành). Cùng với thơ cho Huế của Thu Bồn, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Việt Chiến là nhà thơ tiếp theo viết thật hay, về Huế mưa. Như vậy, ba hình ảnh Cát, Cỏ, Mưa là ba hình ảnh tượng trưng tuyệt vời, in dấu ấn phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Việt Chiến.

Chi tiết nghệ thuật đắt giá trong văn xuôi, thi ảnh đắt giá trong thơ là những chiếc đinh kì diệu “đóng đinh” tác phẩm vào thương nhớ của người đọc.

Tập thơ và trường ca của tác giả Nguyễn Việt Chiến, NXb Hội Nhà văn, 2024.
2.2. Hai thủ pháp nghệ thuật được Nguyễn Việt Chiến yêu thích trong tập thơ và trường ca này.
Thứ nhất: Thủ pháp tương phản:
Thủ pháp tương phản được vận dũng tài tính ở cả cấp độ vĩ mô (cấu trúc bài, các cấp hình tượng, nghệ thuật…) và vĩ mô (cấu trúc câu; thi ảnh…)
Thủ pháp nghệ thuật này hiện diện dày đặc đạt hiệu quả nghệ thuật cao trong các bài thơ: – Đà Lạt như vừa ngủ, giữa núi đồi bình yên, Đà Lạt như còn thức dưới mưa dài bao đêm (Đà Lạt còn thức). Còn đây là cấu trúc tương phản trong bài Bản Công Xéc Tô viết cho lưỡi dao mổ (tặng Tân Phong): Những ngón tay tuyệt diệu, người nghệ sĩ chơi bản Công Xéc Tô, viết cho mũi dao và nắp những quan tài… Trong bài Say, hai nhân vật “Chiều” và “Ta” tương phản trong hoạt động “Vẽ” khói chiều bám lên thành cốc, bọt lên không thấy mặt người, chiều vẽ ta bằng tàn thuốc (ta vẽ chiều bằng sương chơi…)
Thứ hai: Thủ pháp đồng hoá thực và ảo
Chúng ta gặp gỡ thủ pháp này trong: … ở nơi bạc đất xanh dừa, bát cơm chan gió câu hò vắt vai (Nam Bộ);
Và đâu nữa nắng trên vòm tháp cổ:- Trầm tư màu gạch, Chăm gạch đúc bằng nắng sớm, trong nhiệm màu ngàn năm (trước tháp bà PONAGA);
Tôi bâng khuâng mãi với những câu thơ chập chờn ảo thực này:-. Tôi mơ vua Tự Đức, viết thơ lên sông Hương, lấy mưa chiều làm chữ, mơ trong sáng vô thường…
Là một trong những thi sĩ khát khao cách tân thơ và có những thành tựu đã được ghi nhận, Nguyễn Việt Chiến cách tân thơ trong sự gắn bó máu thịt với truyền thống, gần gũi không tắc tị, đánh cố. Ở những bài thơ hay của anh, sự cách tân không dừng ở “Cái vỏ” ngôn từ bề ngoài mà nằm trong “Cái cốt lõi”; – Đặt đối tượng thẩm mĩ đang khám phá, phản ánh vào trong một trường, thẩm mĩ mới một góc nhìn đa chiều có tính phản biện sâu sắc. Còn có thể khẳng định một thành công nữa của Nguyễn Việt Chiến; – Với chùm thơ biển đảo nổi tiếng, anh đã làm mới khuynh hướng sử thi cách mạng từng ngự trị trong thơ Việt Nam 1945- 1975.
N.Đ.H – 5.2024.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *