Thơ hay có nhiều vẻ. Nhưng thơ hay mà buồn – đau lại ám ảnh nhiều hơn, bởi trong nỗi buồn người ta có dịp sống đủ đầy riêng tư, thành thật với mình nhất. Trong nỗi đau, người ta cảm nhận được những vết thương đang cựa mình thức giấc, đang réo gào cứu chữa, đang vẫy gọi lành lặn, đang đợi chờ hồi sinh. Niềm vui thường rộng mở, chỉ có buồn đau là âm thầm khép cửa, thấm thía trong đơn độc. Đó phải chăng là địa hạt bí nhiệm của thơ?
Mọc lên trong lòng tôi (kẻ đọc thầm lặng này) là những nhọn gai, những đóa hoa độc, những ủ dột sầu muộn và cả những khắc khoải đợi chờ. Ấy là khi tôi chạm vào nỗi đau, ngân thành khúc bi ai dọc miền Thanh không lơ lửng. Nhọn gai ám ảnh, mách bảo tôi rằng, đó là nguồn cơn sinh thành thi giới bi ai này: nước mắt khô/ ký ức vừa chết/ đường phố trống cõi rỗng/ bàng hoàng nhọn gai (nhọn gai ký ức); rừng độc/ phải rồi/ ở nơi đó có hàng ngàn hoa độc/ những bông tròn nham nhở nhọn gai (khúc bi ai từ rừng hoa độc); những nhọn gai bầm tím ngực anh đau (khúc ru hoa); sự im lặng của anh/ buốt vệt gai trên cỏ… (phố mưa)… Nhọn gai làm thành nỗi đau. Mà, nỗi đau là “mật mã của em”. Bởi thế, dù thốt nên thành lời hay không, trong mỗi bài thơ, nhọn gai vẫn âm thầm hiện diện. Nhọn gai đâm vào phận người nhức buốt. Nhọn gai cứa vào tình yêu xa cách, biệt ly, tan vỡ. Nhọn gai đâm vào thịt da trên thân thể tật bệnh. Nhọn gai mọc trong ký ức. Nhọn gai chĩa vào/ từ tương lai. Nhọn gai trổ dọc thời gian. Nhọn gai thầm thì nhựa độc những đêm vò võ, những sáng đợi chờ, những ngày trống vắng, những nôn nao câm lặng, những mùa trăng suy tàn, những thanh xuân mòn mỏi. Nhọn gai ánh lên tia nhìn hăm dọa dưới đáy vực hoang mang của kiếp người: mỗi ngày bóng cùng ta lẳng lặng ôm cầm/ ký ức thảo thơm ký ức nhọn kim lưới rùng bể tận/ rưng rức quá làm sao bóng nói/ khi cái lạnh rồi đây sẽ liếm dần lên từng mao mạch ngưng rời (trò chuyện với linh hồn).
Nhưng, giữa việc rơi vào nhọn gai với niềm âu lo lơ lửng trên nhọn gai, tàn mục, điều gì đáng sợ hơn? Cái chết, sự hủy diệt không thực sự đáng sợ. Đáng sợ là những triền miên đối diện hay khắc khoải đợi chờ, bên miệng vực suy tàn, ngoảnh nhìn bồn phía gai chông. Tình thế này sinh hạ một cái tôi đa đoan, dằn vặt, hoang mang, tự vỗ về mà không sao thoát khỏi ám ảnh tuyệt vọng. Ta hiểu vì sao tập thơ có tên là Thanh không. Hẳn là một ý niệm gợi từ đặc tính của thanh điệu này trong cấu trúc ngôn ngữ tiếng Việt. Chữ – lời ấy, cũng là người vậy. Thanh không ôm trùm âm – chữ, lơ lửng triền miên. Đó là gắng gượng cuối cùng cho niềm hi vọng, cũng là bản mệnh của cái tôi trong ám ảnh gai nhọn của cuộc đời: em hốt hoảng nhận ra mình lơ lửng (cửa sổ không bầu trời).
Cái tôi trữ tình, xét ra cũng chỉ là một hình tượng, một nhân cách mang tính đại diện. Nó không phải tất cả đời sống – bản sắc chủ thể, nhưng chiều kích tự thuật của nó rất đáng lưu ý, nhất là trong thể loại giàu tính chủ quan như thơ trữ tình. Chạm vào nhọn gai là đánh thức nỗi đau, phơi mở phần đời rỉ máu đã hóa thân thành cái tôi triền miên khắc khoải. Hóa ra, nhọn gai đã âm thầm đâm tủa trong lòng đời, lòng người, là tất cả nguồn cơn của nỗi đau kết lại. Khúc bi ai này có thể là gì, nếu không phải là máu, là nước mắt, là thịt da, là mơ mộng để mài mòn nhọn gai, để gói bọc, che chắn, kháng cự những cơn đau xót buốt tự trong lòng.
Hoang phế, xanh xao, nhợt nhạt, hững hờ, quên lãng và tật bệnh đẩy đời sống men dần đến vực chết. Nỗi đau, sự tàn hủy phủ bóng tối và hơi thở độc địa của nó lên những tháng ngày sầu muộn. Thế nhưng, ở phía ngược lại, kháng cự tình thế suy tàn cũng làm nên nghị lực sống bền bỉ cho con người. Thanh không, theo nghĩa đó, là một nỗ lực cứu rỗi chính mình, một mơ mộng bay lên, để đối diện, đợi chờ và hi vọng; để những thương yêu không hóa thành tàn tro trong cõi đời hoai mục: chúng ta nói với nhau về nỗi nhớ dòng sông/ nơi chúng ta gửi xuống những khát khao buồn tủi đời mình/ chúng ta nhớ đỉnh núi hoang vắng/ nơi ngước lên vời vợi ước mơ/ và nhìn xuống run rẩy rụng rời/ lòng chúng ta bỗng sừng sững trơ trọi/ tìm lấy tay nhau trong nỗi tái tê đau buốt phận người (trong cơn khát của mùa thu).
Có thể nói, chính nỗi đau và khả năng kháng cự nỗi đau đã làm nên tình điệu của Thanh không. Tình điệu ấy là thanh không lơ lửng, chấp chới mộng mơ giữa ám ảnh chết và bản năng sống. Xin đừng khép sự sống và cái chết vào những phạm trù chật hẹp của xác thân nhục thể. Đó là sự sống và cái chết mang nghĩa lí của tồn tại, là yêu thương gần gụi hay xanh xao nhợt nhạt, là ánh sáng và bóng tối, là hi vọng và tuyệt vọng, là ký ức và quên lãng, là hạnh phúc và khổ đau, là ngục tù và tự do, là “chữ chữ gọi mùa” hay “lặng câm mệt nhọc”… Thơ cất lên trong nỗi bi ai giằng xé ấy như sinh lực của người, nhưng cũng chính thơ cho người nương tựa, cậy nhờ để đi qua nỗi đời “tê tái đến tan hoang”. Những con chữ trổ mầm từ nỗi đau mang dáng hình kẻ chịu nạn, nhưng hãy lắng nghe thật kĩ, trong trái tim của chữ, niềm mộng mơ vẫn se sẽ ngân lên: sen neo thuyền thơm trên sông u buồn/ cầm dương gãy khúc trăng ròng mưa tuôn/ trái duyên em tìm sen ca em hẹn/ có thấy sen không dưới bùn hoang lạnh/ đã tu trọn kiếp bình sinh giấc mùa/ nhủ ta về nghe cầm chiều giăng mưa/ sấm động tháng ba cơn ngâu tháng bảy/ sen lạnh sen câm mưa nhiều phương ấy/ mùa dâng thảo thơm thương sen ở lại/ bàn tay tơ ấm ủ sen hao gầy/ ngày ta thương nhau sen mùa con gái/ đêm mắt khải huyền câu chuyện sen câm/ chớm bấc gió giông lòng sen mây trắng/ nguyện làm cơn nắng trên đường em đi/ đâu tiếng cầm sen vòng vọng giấc mê/ động cánh chim sen cạn ngày dâu bể/ biết em chờ ta sen chờ nắng mưa/ mắt sen đêm ủ dột giấc mơ mù/ ta lỡ cùng em biệt khúc sen ru/ hoa gãy cành chông khô rời lẳng lặng/ nghe thu nức nở kiếp sen đang tàn/ nghe ta im lìm cầm mộng trăng tan (khúc sen). Bài thơ này rất giàu nhạc tính, chỉ xuất hiện một lần, nhưng đích thị là bản dạng trữ tình của Thanh không. Không khó để nhặt tìm những mảnh chữ đau, những khoảnh khắc rên rỉ trên nhọn gai, nhưng lắng nghe nhịp điệu lơ lửng của Thanh không trong mơ mộng trầm xanh thì “khúc sen” mới đúng là ngó tình giữa bi ai. Trong ý niệm về một mã siêu đoạn tính (một khái niệm ngôn ngữ học), sự triền miên lơ lửng đã liên kết những nỗi đau đứt đoạn, những lìa gãy rụng rơi, những hi vọng chập chờn thành điệu thức chủ đạo của thi giới Thanh không. Thi sĩ hiện hữu trong điệu thức triền miên ấy, vừa cất giữ, vừa gắng gượng vượt thoát. Nhưng làm sao để đi hết nỗi đau này, khi giọt máu, hơi thở và tình yêu thương còn cháy lên, “đốt trang đời vô nghĩa”? Bởi thế mà thơ đau. Bởi thế mà cứ mãi triền miên lơ lửng. Bản mệnh của một mã siêu đoạn tính là ôm trùm lên âm – chữ. Âm – chữ hay cả một chuỗi lời, có thể dừng lại, nhưng siêu đoạn tính làm mọi thứ vẫn ngân lên, vang hưởng qua những miền mơ mộng khắc khoải.
Bi ca trên nhọn gai mang nhịp điệu của những cơn đau vừa hiện diện, vừa luôn tiềm tàng ẩn náu. Sâu trong đời chữ, nơi ý tình và hình tượng kết lại dìu đỡ giấc mơ thơ là một cõi lòng thấp thỏm âu lo, thảng thốt sợ hãi, gắng gượng nâng mình dậy. Nhịp điệu của Thanh không chính là “tâm đồ” giữa nỗi đau và hi vọng, giữa nguy cơ và những gắng gượng không ngừng. Chẳng phải tình thế ấy, giăng mắc xe kết qua nhiều ngày tháng, qua nhiều đứt đoạn tạo nên hình thái lơ lửng của Thanh không hay sao?: phải làm sao để bắt đầu?/ sống một giây ghềnh thác/ người vẫn yêu cuộc sống này/ người còn mơ lá rơi…/ còn ta?/ chẳng thể nhân danh sức mạnh gì/ để phục sinh cho những con sẻ quay gió bụi ngoài kia// phải làm sao để bắt đầu?/ còn có giấc mơ nào cho ta phấp phỏng/ vì tiếng trẻ khóc ngày mai? (phải làm sao để bắt đầu).
Thanh không là một tập thơ ám ảnh, dành cho những cõi lòng riêng tư đang chùng xuống lúc gai chông. Dưới bùn hoang lạnh vẫn cất giữ những mùa sen. Dưới làn mưa a-xit những nụ cười vẫn nhói sáng. Chen bên hoa độc, nhọn gai, người vẫn ươm những mùa hương bí ẩn, mọc lên từ khát vọng và yêu thương. Lưu đày và bi ai, ấy là định mệnh của kiếp người. Nhưng, nếu chưa từng thấm thía nỗi bi ai, làm sao biết lời ca trên nhọn gai là hương sắc diệu kì của cõi sống này?
Nguyễn Thanh Tâm*
