Cùng “Bờm” cưỡi xuồng lục bình trôi qua cõi nhân gian

Yên Giang*

Đọc tập thơ “Lời Bờm” từ cảm thức hậu hiện đại và nỗi buồn lưu lạc của tác giả Hiến Văn – Nguyễn Thành Tuấn, NXb Hội Nhà văn, 2026.

Tập thơ “Lời Bờm” của tác giả Hiến Văn, NXb Hội Nhà văn, 2026.
  1. Ú òa Lão Tử

Sau khi nuốt những con chữ cuối cùng của tập thơ “Lời Bờm” trong một buổi chiều thứ Bảy đầu hạ có mưa, tôi rời mắt khỏi màn hình máy tính, nhìn qua cửa sổ nhà mình. Từ cánh đồng lúa uốn câu bát ngát phía sau nhà, tôi thấy trên bờ mương kia, Lão Tử cưỡi trâu đi về phía hoàng hôn đang lấp lánh cầu vồng bảy sắc. Tôi dụi mắt. À không, đúng là Thanh Ngưu, nhưng hình như người cưỡi lại là một đứa bé. Hay là Lão Tử với gương mặt trẻ thơ? Thế rồi trong tôi chợt ngân vang: “bao giờ lại khúc đê này/ cưỡi trâu mà hát với cây ngô đồng”. (Hai câu thơ “hay bình thường” trong bài thơ rất hay: Người xa Phố Hiến – của Hiến Văn – Nguyễn Thành Tuấn).

“bao giờ lại khúc đê này/ cưỡi trâu mà hát với cây ngô đồng”

Với tôi, Nguyễn Thành Tuấn là một ca đặc biệt thú vị của Văn nghệ Hưng Yên. Tôi đã có lúc tưởng rằng sau “Khúc Hạ Yên” thì chàng kỵ sĩ Hiến Văn đã “xin chừa” thơ phú. Nhưng may thay (mà có chắc là may?) thơ ca vẫn níu chân chàng. “Độc thoại” ra đời với sự thay đổi về bút pháp, về tư duy cùng những đau đáu với nghề viết, với cuộc thế nhân sinh. Và giờ đây, sau bước đệm của “Độc Thoại”, “Lời Bờm” đã chính thức cất tiếng. Nó mang đến cho tôi một cảm giác đầy tràn của những dòng xúc cảm vừa quen vừa lạ, vừa bông lơn vừa trầm tư triết lý, vừa có cái dông dài quê kệch của một gã nhà quê, lại vừa lấp lánh chiều sâu của một trí tuệ uyên thâm.

Nhà thơ Hiến Văn là một ca đặc biệt thú vị của Văn nghệ Hưng Yên.

Lời Bờm thực sự là một bản hợp ca đa thanh, đa sắc và chất chứa rất nhiều triết lý nhân sinh, một cuộc chơi chữ nghĩa tưng bừng. Lời Bờm vừa là cuộc hành hương tâm tưởng, vừa là cuộc phiêu du viễn xứ đầy trắc ẩn. Theo hành trình đó, người đọc rơi vào một không gian nghệ thuật đa chiều, nơi những giá trị truyền thống của “Lời Bờm” xứ Bắc đối thoại gay gắt nhưng cũng đầy bao dung với thực tại nắng gió phương Nam trên những chuyến “Xuồng lục bình” vô định.

Xét về cấu trúc, tập thơ có hai phần: phần một Lục bát xin chừa gồm 29 bài lục bát; phần hai Xuồng lục bình với 38 cung bậc, hình hài, với dặm dài sông nước, biên viễn và những suy tưởng về thân phận con người.

“… điều làm nên bản sắc, tạo dấu ấn riêng cho lục bát Nguyễn Thành Tuấn chính là những “cú bẻ lái”…
  1. Lục bát “bẻ lái” và những cuộc giải cấu trúc truyền thống

Hai mươi chín bài lục bát trong tập thơ này hội tụ khá đầy đủ những phẩm chất thơ ca tài hoa và những nỗ lực đổi mới của Nguyễn Thành Tuấn cho thể thơ truyền thống. Ở đây, người ta gặp lại chất quê, hơi người và những địa danh đậm chất Bắc Bộ, từ một Phố Bần với “tiếng gáo chum khua ròn” đến một Làng Nôm với “vạn viên gạch lát đường xinh”. Người đọc lại gặp những câu thơ mang phong vị tuổi hai mươi say đắm: “nếu em chẳng thoáng nhìn tôi/ mắt buồn như thuở tàu rời cảng xưa”, hoặc những câu lục bát mộc mạc mà xuất thần: “mộc miên rớt một đài thiêng/ bỗng dưng bến đục lúm tiền lá răm”.

“nhặt bông hoa đại đẫm sương/ đêm nay trăng sáng trèo tường tôi ra”…

Nhưng điều làm nên bản sắc, tạo dấu ấn riêng cho lục bát Nguyễn Thành Tuấn chính là những “cú bẻ lái” tài tình của nhà thơ. Đang trữ tình hoặc trang nghiêm, mạch thơ bất ngờ ngoặt sang hài hước, đời thường, thậm chí hơi tưng tửng – để rồi sau tiếng cười, sau cái giật mình như bị “xóc” ấy, những chiều sâu tư tưởng mới đột ngột lộ ra. Hãy điểm vài ví dụ:

“nhặt bông hoa đại đẫm sương / đêm nay trăng sáng trèo tường tôi ra”

Câu trên đang đầy thiền vị, thanh sạch, câu dưới đột ngột “trèo tường tôi ra” rất nghịch, rất phàm. Nhưng chính nhờ “cú sốc” ấy mà cặp lục bát bỗng có thêm sức nặng, gầm lên rằng: con người không dễ gì thoát nổi đời sống, dục niệm và cô đơn. Hay như một cú bẻ lái rất hiện đại từ motif tình yêu cổ điển chuyển phắt sang đời sống smartphone:

“muốn nghe nhịp tim em thật rõ/ ghế đá, anh tim gõ thình thình/ mà em cứ gõ ping ping/ cứ trôi cứ trượt màn hình trượt trôi”

Buồn cười mà đau! Đi xa hơn một trò chơi ngôn từ dân dã, Nguyễn Thành Tuấn đã đưa tư duy hậu hiện đại vào lục bát thông qua việc phá vỡ những ranh giới truyền thống và giải cấu trúc các giá trị. Anh giải thiêng từ chùa, đền, cho đến anh hùng, nhà thơ; kéo Triết học phương Tây vào xó bếp Việt Nam (“xó bếp đọc Pla-to”); sử dụng liên văn bản dày đặc từ ca dao, Nguyễn Du đến mạng xã hội Facebook.

“một năm cũ sắp vuột tay mình rồi”…

Đầu tiên là việc phá vỡ sự nguyên khối của cấu trúc dòng thơ bằng thủ pháp xuống dòng để tạo ra những khoảng lặng đầy ý đồ như bài Nợ: “nợ bài lục bát sáu dòng/ mới viết được bốn/ xuống dòng/ đủ không?”.

Thứ hai là sự xâm nhập của ngôn từ công nghệ và khẩu ngữ đời thường (iPhone, iPad, check in, ping ping, “thế á?”, “cóc cần”) ngay cạnh “mái tóc thề”, “tiếng gáo chum”, giải cấu trúc tính “thuần khiết” vốn có của lục bát cổ điển. Thậm chí, Hiến Văn “nổ súng” thẳng vào tính thiêng của thể thơ bằng một giả thuyết đầy tính “vọng ngoại” để thách thức quan điểm truyền thống: “thày Trần Quốc Vượng có nhời/ rằng quan-họ dính dáng người Cham-pa/ cho nên lục-bát khéo là/ mình mượn của họ xào qua rồi xài”. Thơ không còn là “thiêng ngôn” nữa, mà trở thành trò chơi chữ nghĩa, một cuộc vật lộn kỹ thuật đầy trí tuệ để giải phẫu bản tính người.

“những xà lan cát đá ồn ào đúng giờ đúng bến/ những vạt lục bình không neo lặng thinh vô định”…
  1. Biểu tượng xuồng lục bình và vạt sóng vô định giữa cõi thực – ảo

Nếu phần một là lục bát thì phần hai của tập thơ chảy sâu vào tính đối thoại, sự bất ổn của bản ngã, cảm thức lưu động và nỗi cô đơn của con người thời mạng xã hội. Trọng tâm nghệ thuật ở đây là những cuộc đối thoại đa thanh (nhưng thực chất là độc thoại) của thi nhân với cỏ, với mưa, với ong và với chính mình để nhận ra không có gì là chân lý tuyệt đối. Khi bị hỏi trong bài “Ong thợ, ong chúa và tôi”: “liệu trí tuệ của người có bị lập trình không?”, con người đã giật mình sững lại. Con người tưởng mình tự do, nhưng chính trí tuệ có thể cũng chỉ là một chương trình sinh học. Hiến Văn tiếp tục kéo nhà thơ xuống hồng trần khi thừa nhận sự nghi ngờ về ý nghĩa nghề viết: “bạn bè hỏi: thơ đấy à? tôi lắc đầu: tôi không biết!”.

“sao mãi là dòng Đồng Nai/ khi không gặp được ngươi thêm lần nữa?/ …chính ta/ cũng đã xa ta vĩnh viễn”…

Trôi theo dòng chảy hiện sinh ấy, “Xuồng”“Lục bình” hiện lên như một cặp cấu trúc biểu tượng song đôi rất đẹp. Cùng lênh đênh sông nước, nhưng nếu xuồng có hướng đi, có ý chí điều khiển thì lục bình lại trôi nổi, vô định, phó thác đời mình cho dòng chảy.

“những xà lan cát đá ồn ào đúng giờ đúng bến/ những vạt lục bình không neo lặng thinh vô định”

Câu thơ như một tuyên ngôn hiện sinh: xã hội hiện đại chạy theo năng suất, mục tiêu, “đúng giờ đúng bến”; còn thi sĩ, tâm hồn, ký ức lại giống lục bình trôi. Một tâm thế tự tại, chọn lối trôi chảy tự nhiên giữa thế giới thực dụng. Thơ Nguyễn Thành Tuấn giàu tính triết lý. Và nó hay bởi nó là triết lý của người bình thường, mầm triết lý bật lên từ ly cà phê, Facebook, lục bình, chuyến tàu Nam Bắc chứ không hàn lâm, giáo điều. Khi viết: “sao mãi là dòng Đồng Nai/ khi không gặp được ngươi thêm lần nữa?/ …chính ta/ cũng đã xa ta vĩnh viễn”, đây chẳng phải là một sự nâng cấp đầy chất thơ cho tư tưởng của Heraclitus hay sao? Dòng sông thay đổi, và chính cái bản ngã cái tôi cũng biến mất liên tục.

Đi xa hơn một trò chơi ngôn từ dân dã, Nguyễn Thành Tuấn đã đưa tư duy hậu hiện đại vào lục bát thông qua việc phá vỡ những ranh giới truyền thống và giải cấu trúc các giá trị…

Đặc biệt, hình ảnh “vạt sóng chữ V” trong bài thơ Xuồng lục bình chính là nhãn tự của cả phần này. Nó không chỉ là quan sát thị giác trên dòng Đồng Nai mà còn là biểu tượng giao thoa giữa tư duy hình học hiện đại và cảm quan tâm linh. Tác giả giải mã vạt sóng phía sau con xuồng lướt đi thành hai khái niệm triết học: Vô định và Vô hư. Giống như vạt sóng dang rộng rồi tan biến vào mặt nước, mọi nỗ lực, danh vọng hay chính những câu thơ chưa ráo mực của kiếp người cuối cùng cũng chỉ là những giá trị phù du trên dòng chảy thời gian.

Phương Nam không làm phai nhạt gốc gác mà trái lại, nó làm cho ký ức miền Bắc trở nên thiêng liêng, bền chặt hơn…
  1. Nỗi buồn hiện sinh và tấm căn cước mang tên Hiến Văn

Mạch thơ của Lời Bờm còn được làm đầy bởi những suy ngẫm về sự giao thoa và xung đột văn hóa Bắc – Nam. Sống giữa cái nắng “chang chang mai vàng” và thói quen “uống bia cởi trần” của phương Nam, lòng người vẫn nổi lạnh khi nhớ về cái rét nàng Bân hay đôi bàn tay đan áo ở quê nhà. Để rồi nhà thơ thốt lên một câu cay đắng mà sâu nặng: người Việt mở mang bờ cõi vào phương Nam, có thêm nhiều đất đai suy cho cùng cũng là “để nhớ mưa phùn”. Phương Nam không làm phai nhạt gốc gác mà trái lại, nó làm cho ký ức miền Bắc trở nên thiêng liêng, bền chặt hơn.

Một số tác phẩm của nhà thơ Hiến Văn (Nguyễn Thành Tuấn).

Tại sao Bờm không đắm xuồng? Tập thơ tưởng như có sự tách biệt về hình thức nhưng lại được gắn kết chặt chẽ bởi chung một cái tôi lang thang giữa truyền thống và hiện đại, một dòng chảy xuyên suốt của sự dịch chuyển. “Lục bát xin chừa” đi bằng bước chân và ký ức; “Xuồng lục bình” trôi bằng tâm thức và hiện sinh. Thủ pháp bẻ giọng từ nghiêm sang đời chính là mã DNA chung của cả tập thơ. “Xuồng lục bình” chính là trạng thái tâm hồn tự do sau khi đã rời khỏi chiếc neo lục bát.

Nhà thơ Hiến Văn tại nhà sáng tác Tam Đảo…

Nếu nhìn cả tập như một hành trình, ta sẽ thấy Bờm đi từ “người quê” đến “người tư tưởng”. Ở phần một, nhân vật trữ tình là người tình, người đi chùa, anh lính; đến phần hai, con người ấy bắt đầu đối thoại trực diện với thời gian, với tự do và cái chết. Dưới góc nhìn phân tâm học, nhân vật trữ tình có chung một ẩn ức, một nỗi buồn nền: Sợ mất. Cả hai phần đều ám ảnh bởi cái mất, cái trôi, cái không giữ nổi. Phần một là nỗi sợ mất quê, mất tuổi trẻ, mất tình yêu (“một năm cũ sắp vuột tay mình rồi”); phần hai nâng cấp lên thành mất bản ngã, mất ký ức, mất niềm tin hiện sinh (“nếu vậy thì chính ta/ cũng đã xa ta vĩnh viễn”). Chung quy lại đó là cùng một nỗi buồn, chỉ khác cấp độ: buồn đời và buồn hiện sinh.

“Lời Bờm” nhất quán một giọng điệu “rất người”: nửa tưng tửng nửa cô đơn, nửa tỉnh nửa say, vừa đậm đà phong vị quê hương vừa ngập tràn hơi thở hiện đại… – Yên Giang (nhà thơ Đàm Huy Đông – tác giả bài viết).

Nhưng chắc chắn điều quan trọng nhất cũng là điều cốt lõi làm nên giá trị của tập thơ là dù có thay đổi thể loại, xoay chuyển cấu trúc hay nâng cấp mức độ triết luận, cả hai phần vẫn nhất quán một giọng điệu “rất người”: nửa tưng tửng nửa cô đơn, nửa tỉnh nửa say, vừa đậm đà phong vị quê hương vừa ngập tràn hơi thở hiện đại. Đó chính là tấm “căn cước” định danh cho thơ Hiến Văn Nguyễn Thành Tuấn, thứ căn cước không được kiến tạo bằng kỹ nghệ câu chữ khiên cưỡng, mà bằng một mã gen thi sĩ độc bản: chỉ cần đọc lên vài câu, ta đã nhận ra Hiến Văn rồi.

Nhà thơ Hiến Văn và gia đình.

Y.G – 5.2026.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *