Đọc “Thơ từ ký ức” của Phùng Văn Khai

Đặng Việt Thủy*

“Thơ từ ký ức” trong tập “Thơ viết cho mình” của Phùng Văn Khai chính là “phần hồn” bổ trợ cho những pho tiểu thuyết lịch sử đồ sộ của anh, giúp người đọc chạm đến lịch sử bằng con đường ngắn nhất, đó là: Cảm xúc!

Tập thơ “Thơ viết cho mình của tác giả Phùng Văn Khai, NXb Hội Nhà văn, 2026.

Tôi và nhà văn Phùng Văn Khai quen biết nhau gần ba mươi năm nay vì đều là những người lính cùng công tác ở “Phố Nhà binh” Lý Nam Đế; từ ngày anh còn công tác ở Truyền hình Quân đội nhân dân rồi chuyển sang Tạp chí Văn nghệ Quân đội, còn tôi vẫn ở Nhà xuất bản Quân đội nhân dân cho đến khi nghỉ hưu trí.

Tôi vẫn nhớ ngay từ năm 1999, Phùng Văn Khai có truyện ngắn “Những người đốt gạch” và mấy dòng tự bạch: “Văn chương như dòng sông khi đục, khi trong nhưng cứ thủy chung với dòng ắt sẽ có ngày ra tới biển” (“Người viết văn lực lượng vũ trang – Kỷ yếu và tác phẩm”, Nxb Quân đội nhân dân, H.1999).

Nhà văn Đặng Việt Thủy (trái) và nhà thơ Phùng Văn Khai.

Quen biết nhau lâu như vậy mà cho đến nay, Phùng Văn Khai đã luôn làm tôi bị bất ngờ, hết bất ngờ này đến bất ngờ khác. Bất ngờ về sức viết, về năng lực sáng tác, về số lượng tác phẩm với đủ thể loại của anh.

Phùng Văn Khai là nhà văn được đông đảo bạn đọc và giới phê bình biết đến với sự đa năng trong văn chương, đặc biệt là tiểu thuyết lịch sử và thơ.

Tiểu thuyết lịch sử là một mảng sáng tác chính của Phùng Văn Khai và anh đã thành công ở thể loại này. Với tinh thần yêu quý và trân trọng lịch sử dân tộc, anh viết về các nhân vật, các triều đại, các giai đoạn lịch sử với góc nhìn chi tiết, hào hùng nhưng gần gũi. Các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của Phùng Văn Khai như: Phùng Vương viết về sự nghiệp của Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, đây được xem là cuốn tiểu thuyết mở đầu cho chuỗi tác phẩm lịch sử quy mô của anh; Ngô Vương, tiểu thuyết khắc họa chân dung Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng vang dội năm 938, khẳng định nền tự chủ của đất nước; bộ tiểu thuyết “Vương triều Tiền Lý” gồm 4 tập: Nam Đế Vạn Xuân, Triệu Vương phục quốc, Lý Phật Tử định quốc, Lý Đào Lang Vương, tái hiện vương triều Tiền Lý và cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế (Lý Bí) cùng quá trình thành lập nước Vạn Xuân; Trưng Nữ Vương, cuốn tiểu thuyết viết về Hai Bà Trưng trong giai đoạn đầu chống Bắc thuộc….

Nhà thơ Phùng Văn Khai.

Bên cạnh những tác phẩm lịch sử, Phùng Văn Khai còn có tiểu thuyết mang yếu tố hiện thực huyền ảo như Hư thực

Phùng Văn Khai là một nhà văn đa tài, có những đóng góp quan trọng trong việc làm mới mảng tiểu thuyết lịch sử và thơ đương đại Việt Nam.

Thơ Phùng Văn Khai mang những nét đặc trưng riêng biệt, vừa mang khí chất của một người lính dạn dày, vừa có sự bay bổng, chiêm nghiệm của một tâm hồn nghệ sĩ tài năng.

Nét nổi bật trong thơ của Phùng Văn Khai là sự hào sảng và khí chất công dân. Thơ của anh tràn đầy năng lượng sống và tinh thần dấn thân. Đặc biệt, cảm hứng về Tổ quốc, lịch sử dân tộc và trách nhiệm của người cầm bút luôn thường trực trong các sáng tác của anh.

Sự kiện ra mắt “Thơ viết cho mình” thu hút sự quan tâm của giới sáng tác, phê bình và độc giả…

Tập thơ “Thơ viết cho mình” của Phùng Văn Khai vừa xuất bản là một bất ngờ mới và ấn tượng sâu sắc với tôi. Tác giả tâm sự: “Thơ viết cho mình đến với tôi, với bạn đọc phải chăng có điều gì đó bất thường? Dài rộng về không gian, càng dài rộng về thời gian ngàn năm trước mà sao nhanh đến vậy?”. Bởi vì tập thơ được hoàn chỉnh chưa đầy hai tháng – “đó như một kỷ lục, một dấu mốc hết sức thân thương trong nghiệp văn bút của mình” – lời tâm sự của nhà thơ.

Tập thơ gồm có hai phần: “Thơ từ ký ức” và “Thơ viết cho mình”. Ở bài viết này, tôi có một vài cảm nhận về “Thơ từ ký ức” của nhà thơ Phùng Văn Khai.

Trong mấy chục năm qua, quá trình đi điền dã và khảo sát thực tế thường xuyên của nhà văn, nhà thơ Phùng Văn Khai là một phần không thể thiếu, giúp nhà văn “thổi hồn” vào những trang sử khô khan. Với anh, việc viết tiểu thuyết lịch sử không thể dừng lại ở nghiên cứu sử liệu (như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục…) mà còn là hành trình “chạm” vào di sản. Phùng Văn Khai dành rất nhiều thời gian đến các vùng đất gắn liền với nhân vật lịch sử.

Chẳng hạn, khi viết về Phùng Hưng và Ngô Quyền, anh đã nhiều lần về Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội).- mảnh đất sinh ra hai vị vua anh hùng của dân tộc. Tại đây, anh vừa có thêm tư liệu để viết tiểu thuyết Phùng Vương và Ngô Vương, lại dạt dào cảm xúc làm thơ. “Đường Lâm” là chùm thơ thể hiện cảm xúc riêng trong trường cảm xúc lớn với đất Đường Lâm của Phùng Văn Khai:

“Đá ong trầm mặc nghìn năm

Rừng cây cổ thụ nghiêng nằm phơi sương

Thung xanh phảng phất hai gươm

Phùng Vương định quốc, Ngô Vương khải hoàn.

………

Con lẫm chẫm tìm về đất tổ

Đã thấy đình, đền xanh bóng cây

Tượng vua vấn vít hương trầm phủ

Dân xuống đồng trong bui mưa bay”.

Ở đây cũng cần nói thêm rằng, hai cuốn tiểu thuyết lịch sử Phùng Vương và Ngô Vương được đánh giá là “một sự đối thoại lịch sử” bằng góc nhìn đa chiều, giúp bạn đọc đương đại kết nối sâu sắc hơn với nguồn cội, và cũng khẳng định vị thế của Phùng Văn Khai là một trong những cây bút tiểu thuyết lịch sử hàng đầu hiện nay. Anh viết tiểu thuyết cũng như làm thơ bằng cả trí tuệ, trái tim nhiệt huyết và niềm xúc cảm rất lớn của mình.

Khi viết về Lý Nam Đế, Phùng Văn Khai đã tìm đến các vùng di tích ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ…, tìm đọc, khai thác tư liệu từ các bản thần tích, ngọc phả được lưu giữ tại các ngôi chùa, đình, đền, miếu – vốn là những nguồn sử liệu dân gian quý báu mà chính sử đôi khi không chép chi tiết. Phùng Văn Khai đã nhiều lần về chùa Cổ Pháp (ở Tiên Phong, Phổ Yên, Thái Nguyên), nơi mà Lý Bí (Lý Nam Đế) xuất gia tu Phật khi mới 6 tuổi. Năm 18 tuổi, ngài rời chùa bôn ba khắp nơi, rồi đến năm Nhâm Tuất – 542 đã chiêu mộ anh tài và nhân dân đứng lên khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Lương ở phương Bắc. Năm Giáp Tý – 544 đã đánh đổ ách đô hộ nhà Lương, giành độc lập dân tộc, Lý Bí xưng Lý Nam Đế – vị hoàng đế đầu tiên ở nước ta, đặt tên nước là Vạn Xuân. Với niềm xúc động dạt dào và lòng biết ơn với tiền nhân, Phùng Văn Khai đã viết về “Chùa Cổ Pháp”:

“Vạn Xuân khai quốc nguyên niên

Rêu phong Cổ Pháp thâm nghiêm non ngàn

Vương triều Tiền Lý khang trang

Còn đây cổ tự trăng vàng soi gương.

                

Đem thân vào nghiệp đế vương

Đều từ tiếng khánh, tiếng chuông chùa làng

Lầu son, gác tía, ngai vàng

Đã thành thăm thẳm lau ngàn gió reo.

………….

Tìm ai đốt lửa, thắp đèn

Khơi quốc thống, dựng đình đền Vạn Xuân

Nghìn năm mây trắng phân vân

Ve soi bóng một mảnh sân chùa làng”.

Về thăm “Thành Cổ Loa” – một di tích lịch sử nổi tiếng, để tìm tư liệu khi viết tiểu thuyết Ngô Vương và các tiểu thuyết khác, nhà thơ Phùng Văn Khai  đã được các cụ thủ từ, thủ đền và anh chị em trong Ban Quản lý di tích tiếp đón rất nhiệt tình và cung cấp nhiều tư liệu quý. Nhà thơ cảm động viết những dòng thơ mang nặng nỗi suy tư, nhung nhớ, trăn trở nhưng cũng rất tự hào để tri ân vùng đất cổ:

“Phiên chợ sớm, bí, bầu, khoai, sắn…

Vệt mồ hôi trong nắng cổ thành

Vương triều mấy nghìn năm xa vắng

Chỉ thấy hàng cây lặng im xanh.

         

Lẫy nỏ oan khiên phận thiếp – chàng

Ngai vàng gãy đổ nước tan hoang

Gươm báu đứt lìa tình phụ tử

Thân trai ngậm ngọc lệ đôi hàng.

 

Đằng giang chiến cổ vang hiển hách

Kinh đô bình dị Cổ Loa thành

Ngô Vương định quốc nghìn năm trước

Còn nguyên vóc nước buổi bình minh”…

Đến các di tích lịch sử, các danh lam cổ tự, quan sát kiến trúc, đồ thờ tự và không gian văn hóa tại đây, nhà văn tìm hiểu kỹ càng, với tư duy khoa học, sáng tạo để tái hiện không khí thời đại một cách chân thực nhất trong tác phẩm của mình. Không những thế, nhà văn còn lắng nghe “sử sống” trong dân gian, coi trọng việc trò chuyện với các bậc cao niên, các vị tăng ni, các thủ từ, am hiểu về huyền tích địa phương. Điều này giúp anh nắm bắt được thái độ, tình cảm của nhân dân đối với các anh hùng dân tộc, từ đó xây dựng hình tượng nhân vật gần gũi và hào sảng.

Khi đến chùa Gia Thượng (Tiêu Dao – Bảo Cự) ở Bồ Đề, Long Biên, được trò chuyện với sư thầy, đàm đạo với các nghệ nhân cây cảnh nơi sân chùa và cảm nhận rất rõ một cuộc sống trầm hậu nhưng cũng rất thanh tân dưới ngôi cổ tự thâm nghiêm này, Phùng Văn Khai rất ấn tượng với hai hàng tượng 18 vị La Hán trong chùa. “Tức cảnh sinh tình”, nhà thơ viết một mạch chùm thơ “18 vị La Hán chùa Gia Thượng”:

“Đã mấy trăm năm, mấy nghìn năm

 Gội gió dầm sương ủ khói trầm

Một sớm nhành mai hoa lấm tấm

Xòa trên vai tượng nét thanh xuân.

 

Ừ ngày, ừ tháng, ừ năm…

Thiên hạ thịnh suy cuộc xoay vần

Riêng nếp chùa làng nguyên vẻ cũ

Đôi hàng tượng Phật vẫn thanh tân.

 

Bôn ba góc bể chân trời

Lầm than tượng cũng như người nông phu

Bàn gì những chuyện thiên thu

Đêm trăng tiếng sáo vọng từ tầng không.

 ………

Lặng yên trong tiếng chuông ngân bốn mùa”.

         

Ở bài “Vườn cảnh chùa Gia Thượng”, tác giả viết:

“… Ơn người tạo tác cây xanh!

Ơn cây xanh biết thắm tình quê hương

Đi qua năm tháng nẻo đường

Cây như người đã dâng hương trọn đời”.

Cũng ở chùa Gia Thượng, trong những buổi chiều vàng nắng mùa thu nơi sân chùa, nghe tiếng “Chuông gió chùa Gia Thượng”, nhà thơ cảm thấy chuông gió như đang đồng hành, khơi gợi những vần thơ của mình:

“Bình boong chuông gió vườn chùa

Tiếng hôm nay, tiếng ngày xưa đan cài

Nhẹ nhàng thanh thoát hôm mai

Nghiêng nghiêng vai tượng một vài tiếng chim.

 

Ai người đáy bể mò kim

Ta trong vườn tượng lặng im chùa làng

Bình boong chuông gió đôi hàng

Thảo thơm nguồn cội đá vàng xưa sau.

 

Tiếng chuông từ những nông sâu

Như triền dâu nối triền dâu sông Hồng

Việc đời sắc sắc không không

Tiếng chuông thong thả bềnh bồng hôm mai.”…

Thật thú vị khi nhà thơ Phùng Văn Khai trở về chùa Nôm ở quê hương mình, nơi anh gắn bó từ nhỏ đến khi nhập ngũ vào quân đội. Năm nào nhà thơ cũng nhiều lần trở về và đàm đạo với nhà sư trụ trì ở chùa. Bởi vì sư thầy chùa Nôm là người đồng niên và đồng học một thời với nhà thơ. Nhiều tiểu thuyết lịch sử khi viết xong bản thảo, anh thường đem đến đàm đạo với sư thầy. Thật là tri âm tri kỷ. “Vườn tượng chùa Nôm mùa xuân” được Phùng Văn Khai viết tại đây:

“… Sư thầy thong thả trà thoang thoảng

Dăm nhánh tầm xuân nắng đong đưa

Tà áo ai bay chuông vấn vít

Trong những vòm cong ngọn gió đùa.

……

Vườn tượng chùa Nôm mùa xuân ấy

Có còn nguyên vẹn đợi ta về?

Cầu đá soi nghiêng dòng nước chảy

Giùm ta lưu giữ mảnh hồn quê”.

Từ những chuyến đi khảo sát địa hình, thực địa, trực tiếp đến các địa danh của đất nước đã giúp Phùng Văn Khai miêu tả chính xác về thế trận, địa hình và các diễn biến quân sự, tạo nên sự hấp dẫn và logic cho các trận đánh. Qua mỗi chuyến đi, anh thu lượm những mảnh ghép còn thiếu để “vun vén” lại bức tranh lịch sử dân tộc, biến những chuyến đi điền dã thành nguồn cảm hứng dồi dào cho sự sáng tạo để viết tiểu thuyết và… sáng tác thơ.

Trong phần “Thơ từ ký ức” còn có rất nhiều bài như: “Hành cung Cổ Bi”, “Trước đền Triệu Việt Vương”, “Trước miếu thờ Thái phó Phùng Tá Chu”, “Trước đền ba vị Đại vương họ Trịnh”, “Trước mộ Thái sư Trần Thủ Độ”, “Dưới chân tượng đài Phùng Khắc Khoan”, “Trước đền cụ Đội Cấn”… được lấy cảm hứng từ những chuyến đi thực tế như trên.

Như Phùng Văn Khai đã tâm sự ở đầu tập thơ: “Tôi đã trả nợ được những địa danh, danh nhân văn hóa lịch sử, các danh thắng nơi mình từng thưởng ngoạn, ghi dấu ấn trong các tiểu thuyết lịch sử nay lần lượt hiện vào thơ chẳng phải thú vị lắm sao? Những câu hỏi lịch sử từ nghìn năm trước, những oan khiên, định kiến, tai ách thiên thu vận vào mọi kiếp người tới hôm nay dường như còn chưa được trả lời thỏa đáng nay vang lên ở trong thơ chẳng phải cũng cần thiết lắm sao?… Nhà thơ lại nói: “Từ những câu hỏi vang lên ấy, Thơ viết cho mình mau chóng lên thành dạng, trở thành một bản thảo phong quang, dày dặn tự lúc nào”.

Vâng, đúng như vậy! Đối với tôi, như phần đầu bài viết đã nói, Phùng Văn Khai đã luôn làm tôi bị bất ngờ và càng nể phục về sức làm việc không biết mệt mỏi, không ngừng nghỉ của anh.

Thơ viết về các di tích lịch sử và danh thắng của Phùng Văn Khai không chỉ đơn thuần là những bài thơ vịnh cảnh mà là kết quả của một quá trình “điền dã tâm hồn sâu sắc“. Mỗi ngôi chùa, đền, miếu trong thơ anh không chỉ là khối kiến trúc vô tri. Qua cái nhìn của một nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, chúng trở thành những “chứng nhân” sống động. Nhà thơ kết hợp nhuần nhuyễn những chi tiết hiện thực (mái ngói, tượng, bia đá, gốc đa) với không khí huyền tích, tạo nên một không gian vừa gần gũi vừa linh thiêng. Ở đây có sự giao thoa giữa “Thực” và “Thiêng”.

Thơ của Phùng Văn Khai là tiếng nói tri ân. Tại các di tích, danh thắng, lời thơ mang âm hưởng hào sảng nhưng đầy chiêm nghiệm. Đó là sự đối thoại giữa người đương đại với tổ tiên. Nhà thơ không chỉ ngắm cảnh mà đang lưu giữ ký ức dân tộc, biến lòng biết ơn thành những vần thơ có sức nặng về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Phùng Văn Khai nhìn danh thắng bằng con mắt của một người lính dạn dày và một nhà báo mẫn tiệp. Thơ anh tránh được sự sáo rỗng, thay vào đó là những quan sát tinh tế về sự biến thiên của thời gian, sự bền bỉ của văn hóa trước dâu bể, thể hiện tâm thế tự hào và trách nhiệm của một trí thức trước di sản quốc gia.

Có thể nói “Thơ từ ký ức” trong tập “Thơ viết cho mình” của Phùng Văn Khai chính là “phần hồn” bổ trợ cho những pho tiểu thuyết lịch sử đồ sộ của anh, giúp người đọc chạm đến lịch sử bằng con đường ngắn nhất, đó là: Cảm xúc. Xin chúc mừng tiểu thuyết gia, nhà thơ Phùng Văn Khai!

Đ.V.T – Theo Vanvn.vn – 5.2026

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *